Tham gia đóng góp ý kiến cho dự án luật Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), đại biểu Nguyễn Văn Hạnh, Phó Giám đốc Công an tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long đã thẳng thắn phân tích nhiều vấn đề thực tế cốt lõi và đề xuất các giải pháp hoàn thiện mang tính khả thi cao, nhằm nâng cao chất lượng lập pháp và kiểm soát chặt chẽ quyền lực tố tụng.
![]() |
| Phó Giám đốc Công an tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long tham gia phát biểu tại Hội trường ngày 23/8/2026. |
Kiểm soát chặt chẽ quy trình xử lý sớm vật chứng và tài sản
Đại biểu bày tỏ sự đồng tình cơ bản với nhiều nội dung đã được tiếp thu, chỉnh lý tại Báo cáo số 109 ngày 22/8/2026 giải trình ý kiến của các đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, đi sâu vào từng quy định cụ thể, đại biểu tập trung phân tích Điều 112 về việc xử lý sớm vật chứng và tài sản nhằm đảm bảo tính khả thi và ngăn chặn nguy cơ lạm quyền.
Theo dự thảo, khoản 1 quy định thẩm quyền, điều kiện xử lý sớm vật chứng, tài sản nhằm khắc phục hậu quả, tránh thất thoát, lãng phí và thu hồi nhanh tài sản mà không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Khoản 3 quy định các biện pháp cụ thể như trả tiền cho bị hại, nộp tiền đảm bảo nhận lại tài sản, mua bán, chuyển nhượng hoặc giao tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp tiếp tục khai thác sử dụng. Đánh giá cao ý nghĩa thực tiễn của quy định này, nhưng đại biểu cho rằng vì vấn đề này liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân khi chưa có phán quyết cuối cùng của Tòa án, dự án luật cần hoàn thiện thêm ở 3 điểm mấu chốt:
Thứ nhất, làm rõ căn cứ, tiêu chí áp dụng biện pháp xử lý sớm: Tại khoản 1 Điều 112, cụm từ "trong trường hợp cần thiết" còn mang tính định tính khá rộng và chưa rõ ràng. Đại biểu đề nghị cần quy định cụ thể hơn các căn cứ, tiêu chí để áp dụng biện pháp này nhằm hạn chế tối đa sự phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Thứ hai, minh bạch hóa trách nhiệm bồi hoàn và bồi thường thiệt hại: Khoản 4 quy định khi không còn căn cứ, điều kiện thì phải hủy bỏ biện pháp xử lý, trừ trường hợp các biện pháp tại điểm a, điểm c khoản 3 đã thực hiện xong (tức tài sản đã trả lại cho bị hại hoặc đã được bán, chuyển nhượng). Đại biểu còn lo lắng, nếu trường hợp tài sản đã xử lý xong nhưng sau đó bản án cuối cùng của Tòa án lại xác định khác với căn cứ xử lý ban đầu, thì quy trình bồi hoàn sẽ ra sao? Ai chịu trách nhiệm hoàn trả, hoàn trả theo giá trị nào và trách nhiệm bồi thường thiệt hại được giải quyết thế nào? Đây là khoảng trống pháp lý cần được làm rõ ngay trong luật.
Thứ ba, luật hóa các điều kiện áp dụng thay vì ủy quyền cho văn bản dưới luật: Tại khoản 5 quy định giao các cơ quan trung ương hướng dẫn chi tiết thi hành Điều 112. Đại biểu đề nghị chỉ nên giao cho văn bản dưới luật những vấn đề thuần túy mang tính kỹ thuật. Các nội dung quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền công dân như điều kiện áp dụng, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm hoàn trả bồi thường bắt buộc phải được quy định cụ thể ngay trong Bộ luật.
Xác định đúng bản chất pháp lý của chế định tự nguyện nhận tội
Chủ trương xây dựng cơ chế tố tụng đơn giản hơn đối với trường hợp người bị buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt nhận được sự đồng thuận cao từ đại biểu tỉnh Vĩnh Long. Quy định này giúp tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng và khuyến khích việc khắc phục hậu quả nhanh chóng. Tuy nhiên, đại biểu nhấn việc áp dụng cơ chế đặc biệt này phải dựa trên sự tự nguyện tuyệt đối, lời nhận tội phải phù hợp với các chứng cứ khác và không được coi là chứng cứ duy nhất để kết tội. Để đảm bảo tính khả thi, đại biểu Nguyễn Văn Hạnh đề xuất tiếp tục xem xét 3 điểm quan trọng:
Một là, rà soát khái niệm và thời điểm "chấp nhận hình phạt": Điểm a khoản 1 Điều 445 yêu cầu bị can, bị cáo chấp nhận hình phạt, biện pháp tư pháp do cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị. Đại biểu phân tích rằng ở giai đoạn điều tra, hình phạt cụ thể chưa được xác định và quyền phán quyết hình phạt cuối cùng thuộc về Tòa án. Bên cạnh đó, Điều 447 cho phép cơ quan điều tra lập biên bản về việc bị can chấp nhận hình phạt, trong khi đến giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát mới chính thức đưa ra mức đề nghị. Vì vậy, đại biểu kiến nghị nên điều chỉnh bản chất của chế định theo hướng: người bị buộc tội tự nguyện nhận tội và không tranh chấp về chứng cứ, tình tiết cơ bản; Viện kiểm sát đề nghị và Tòa án quyết định hình phạt.
Hai là, bắt buộc phải có sự tham gia của người bào chữa: Điểm c khoản 1 Điều 445 và khoản 1 Điều 448 hiện cho phép mời người chứng kiến trong trường hợp không có người bào chữa. Đại biểu Nguyễn Văn Hạnh nhấn mạnh, người chứng kiến chỉ có chức năng xác nhận diễn biến tố tụng khách quan, hoàn toàn không thể thay thế vai trò tư vấn pháp lý chuyên sâu của người bào chữa. Người bị buộc tội cần có luật sư để hiểu rõ toàn bộ hệ quả pháp lý trước khi ký vào biên bản tự nguyện nhận tội.
Ba là, xây dựng thành một chế định riêng biệt thay vì rút gọn cục bộ: Khoản 2 Điều 451 quy định thời hạn điều tra đối với các trường hợp này vẫn thực hiện theo thủ tục thông thường (Điều 179), trong khi giai đoạn truy tố, xét xử lại được rút ngắn; đồng thời Điều 454 cũng thu hẹp phạm vi xét hỏi, tranh luận. Như vậy, thủ tục mới chỉ rút ngắn cục bộ một số khâu chứ chưa rút gọn toàn bộ quy trình. Đại biểu đề xuất xây dựng thủ tục này thành một chế định tố tụng riêng biệt trong Bộ luật, còn thủ tục rút gọn chỉ áp dụng cho các vụ án thực sự đáp ứng đầy đủ tiêu chí rút gọn thông thường.
Những kiến nghị thẳng thắn, mang tính thực tế và lập luận chặt chẽ của đại biểu Nguyễn Văn Hạnh đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trước cử tri và Quốc hội. Việc tiếp thu, hoàn thiện các quy định này không chỉ nâng cao tính khả thi của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) mà còn góp phần quan trọng xây dựng nền tư pháp công bằng, nghiêm minh, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp.
Kết luận nội dung thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định đề nghị, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao khẩn trương chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ với Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, các cơ quan có liên quan để nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các luật, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc tiếp thu, chỉnh lý trước khi hoàn thiện trình Quốc hội thảo luận, xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Hai, bảo đảm chất lượng tốt nhất, đúng tiến độ theo yêu cầu.
HỒNG YẾN


