Thảo luận về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị, đại biểu Quốc hội Thạch Phước Bình, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long, cho rằng dự án lấn biển tạo đảo nhân tạo có những đặc thù rất khác dự án đầu tư trên đất liền. Vì vậy, pháp luật không chỉ cần tạo điều kiện để dự án được triển khai thuận lợi mà còn phải dự liệu cơ chế xử lý linh hoạt, an toàn trong trường hợp dự án gặp khó khăn hoặc không thể tiếp tục.
Đại biểu Quốc hội Thạch Phước Bình cơ bản thống nhất với sự cần thiết xây dựng cơ chế, chính sách riêng đối với dự án khu đô thị lấn biển tạo đảo nhân tạo.
Theo đại biểu, khác với một dự án đầu tư thông thường trên đất liền, khi dự án lấn biển gặp sự cố, hậu quả không chỉ dừng ở công trình dở dang, các khoản nợ hay tranh chấp tài sản, mà còn có thể tác động trực tiếp đến đê, kè, dòng chảy, xói lở, môi trường biển và sự an toàn của phần không gian đã được tạo lập. Chính vì vậy, việc xử lý không thể chỉ căn cứ vào tình trạng pháp lý của dự án, càng không thể áp dụng một phương án duy nhất cho mọi trường hợp, mà phải xuất phát từ trạng thái thực tế của công trình tại thời điểm phát sinh vấn đề.
Mỗi trạng thái dự án cần một phương án xử lý khác nhau
Đối với trường hợp dự án đang trong quá trình san lấp, tạo đảo nhưng phải dừng giữa chừng, đại biểu Thạch Phước Bình cho rằng yêu cầu ưu tiên trước hết phải là bảo đảm an toàn công trình và môi trường. Ở giai đoạn này, pháp luật cần xác định rõ trách nhiệm gia cố phần đã san lấp, duy trì đê, kè, tiếp tục quan trắc sụt lún, xói lở, dòng chảy; đồng thời phải trả lời được câu hỏi nguồn kinh phí được lấy từ đâu nếu nhà đầu tư không còn khả năng thanh toán. Theo đại biểu, việc lựa chọn phương án khắc phục hoặc gia cố hiện trạng phải căn cứ vào đánh giá kỹ thuật cụ thể, chứ không thể chỉ dựa vào một quyết định chấm dứt dự án về mặt pháp lý.
![]() |
| Đại biểu Quốc hội Thạch Phước Bình, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long phát biểu tại phiên họp sáng 22/8/2026. Ảnh: media.quochoi.vn |
Khi đảo và hệ thống hạ tầng cơ bản đã hình thành nhưng khu đô thị chưa hoàn thành, vấn đề lại khác. Khi đó, cần xác định dự án có tiếp tục được triển khai hay không; nếu tiếp tục thì lựa chọn nhà đầu tư kế nhiệm theo cơ chế nào; quyền, nghĩa vụ, các khoản nợ, tài sản bảo đảm và nghĩa vụ về môi trường sẽ được chuyển giao, xử lý ra sao. Đại biểu nhấn mạnh một nguyên tắc cần được xác lập rõ: Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm an toàn công trình và lợi ích công cộng, nhưng không mặc nhiên gánh thay nghĩa vụ thương mại của nhà đầu tư. “Không thể vì mục tiêu cứu dự án mà biến rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp thành nghĩa vụ của ngân sách nhà nước”, đại biểu nêu quan điểm.
Đối với dự án đã có cư dân, người mua nhà, tổ chức tín dụng, nhà thầu và các bên thứ ba tham gia, yêu cầu xử lý càng phải thận trọng hơn bởi lúc này đã hình thành nhiều quyền và lợi ích hợp pháp.Theo đại biểu, phải phân biệt rõ trách nhiệm của nhà đầu tư vi phạm với quyền lợi của người mua nhà, ngân hàng, nhà thầu và các chủ thể không có lỗi. Việc xử lý một nhà đầu tư vi phạm không thể làm phát sinh thêm rủi ro pháp lý cho những chủ thể đã xác lập quyền hợp pháp. Do đó, mọi biện pháp xử lý phải đúng đối tượng, đúng trách nhiệm và đồng thời bảo đảm sự ổn định của các quan hệ tài sản đã được hình thành.
Ngay cả khi dự án đã vận hành trong thời gian dài và hết thời hạn hoặc bị chấm dứt trước hạn, theo đại biểu, trách nhiệm đối với đê, kè, hệ thống thoát nước, phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường vẫn còn tồn tại. Vì vậy, trách nhiệm hậu dự án phải được xác định ngay từ khi chấp thuận đầu tư, thay vì chờ đến cuối vòng đời dự án mới tìm phương án xử lý.
Không thể để chấm dứt dự án đồng nghĩa với chấm dứt trách nhiệm
Từ các tình huống nêu trên, đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị trước hết Luật phải xác lập một nguyên tắc rõ ràng: việc đình chỉ, chấm dứt hoặc thu hồi dự án không làm chấm dứt nghĩa vụ bảo đảm an toàn công trình, bảo vệ môi trường và xử lý những hậu quả đã phát sinh từ hoạt động lấn biển.
Theo đó, Chính phủ cần được giao quy định cụ thể phương án xử lý tương ứng với từng trạng thái của dự án, gồm dự án đang san lấp; đảo và hạ tầng đã cơ bản hình thành; khu đô thị đã đi vào khai thác và phát sinh quyền của bên thứ ba. Đại biểu cho rằng không nên áp dụng cơ chế thu hồi đối với dự án trên đất liền cho dự án tạo đảo nhân tạo, bởi tính chất công trình, hậu quả môi trường và yêu cầu duy trì an toàn sau khi dự án dừng lại hoàn toàn khác nhau.
Can thiệp sớm trước khi rủi ro tài chính trở thành rủi ro công trình
Một kiến nghị khác được đại biểu đặt ra là phải gắn việc đánh giá định kỳ dự án với những hậu quả pháp lý cụ thể. Khi xuất hiện rủi ro, cơ quan quản lý có thể yêu cầu nhà đầu tư khắc phục và tăng cường giám sát; khi năng lực tài chính suy giảm nghiêm trọng, cần áp dụng các biện pháp bảo đảm phù hợp; còn khi vi phạm đến mức nghiêm trọng thì phải có căn cứ để đình chỉ, chấm dứt hoặc thu hồi dự án.
Mục tiêu, theo đại biểu, là tạo cơ chế can thiệp sớm, không chờ đến khi rủi ro tài chính của doanh nghiệp chuyển thành rủi ro đối với công trình, môi trường và lợi ích công cộng mới xử lý. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với dự án lấn biển, bởi khi một phần không gian biển đã được san lấp, tạo lập thì việc nhà đầu tư dừng hoạt động không đồng nghĩa với việc các yêu cầu về duy trì đê, kè, quan trắc hay chống xói lở cũng có thể dừng theo.
“Tiếp quản an toàn” nhưng không gánh thay nghĩa vụ của doanh nghiệp
Từ đặc thù đó, đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị nghiên cứu cơ chế “tiếp quản an toàn” đối với một số hạng mục thiết yếu như đê, kè, trạm bơm, hệ thống quan trắc, cảnh báo trong trường hợp nhà đầu tư không còn khả năng vận hành.
Tuy nhiên, đại biểu đặc biệt nhấn mạnh phải phân định rõ bản chất của cơ chế này. Đây là tiếp quản để bảo đảm an toàn công trình và lợi ích công cộng, không phải tiếp quản hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước không vì phải duy trì một số công trình thiết yếu mà đương nhiên nhận các khoản nợ hoặc kế thừa nghĩa vụ thương mại của nhà đầu tư. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm Nhà nước thực hiện trách nhiệm đối với an toàn cộng đồng, môi trường và công trình thiết yếu, vừa tránh tình trạng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cuối cùng được chuyển sang ngân sách nhà nước.
Phải xác định nguồn lực xử lý ngay từ khi dự án được chấp thuận
Cùng với cơ chế xử lý, đại biểu đề nghị nghiên cứu các công cụ bảo đảm tài chính phù hợp cho nghĩa vụ môi trường và an toàn công trình như ký quỹ, bảo lãnh, bảo hiểm trách nhiệm môi trường hoặc những công cụ tương đương.
Theo đại biểu, điều quan trọng không nằm ở tên gọi của công cụ mà ở khả năng trả lời một câu hỏi rất thực tế: nếu nhà đầu tư mất khả năng thanh toán, nguồn lực nào có thể được huy động ngay để duy trì đê, kè, quan trắc, chống xói lở và xử lý sự cố ? Nếu câu hỏi này không được giải quyết ngay từ khi thiết kế cơ chế đầu tư thì đến khi rủi ro xảy ra, ngân sách nhà nước rất dễ trở thành nguồn lực cuối cùng phải đứng ra khắc phục hậu quả. Do đó, yêu cầu về nguồn lực tài chính dự phòng cần được xác lập ngay từ đầu, gắn với trách nhiệm của nhà đầu tư và đặc thù của từng dự án.
Từ những đề xuất trên, đại biểu Thạch Phước Bình cho rằng chính sách đối với dự án khu đô thị lấn biển cần được xây dựng theo tư duy quản lý toàn bộ vòng đời dự án, từ khi hình thành, vận hành cho đến khi phát sinh rủi ro hoặc buộc phải chấm dứt. Luật không chỉ cần thiết kế cơ chế để dự án được bắt đầu thuận lợi, mà còn phải thiết kế được một “lối thoát pháp lý” an toàn khi dự án không thể tiếp tục.
Quỳnh Như


