Hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công, đẩy mạnh phân cấp và tạo điều hành linh hoạt ngân sách phục vụ phát triển

14:27, 24/08/2026

Tham gia phát biểu đóng góp ý kiến cho dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), đại biểu Nguyễn Trúc Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long bày tỏ sự đồng tình, nhất trí cao với chủ trương hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công; giúp địa phương rút ngắn quy trình và tiết kiệm thời gian xây dựng, thông qua các nghị quyết liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với phân bổ nguồn lực.

Qua góp ý, đại biểu đưa ra nhiều kiến nghị mang tính thực tiễn nhằm điều hành ngân sách địa phương, giải quyết “độ vênh” trong giải ngân đầu tư công và biên độ năm tài chính.



Đại biểu Nguyễn Trúc Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, phát biểu tại hội trường.
Đại biểu Nguyễn Trúc Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, phát biểu tại hội trường.

Việc hợp nhất Luật sẽ giúp rút ngắn quy trình thông qua nghị quyết ở địa phương

Đại biểu nhấn mạnh sự tán đồng cao đối với chủ trương hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công. Theo đại biểu, việc hợp nhất này không chỉ mang lại thuận lợi ở cấp độ quốc gia mà còn giải quyết trực tiếp những vướng mắc ở cấp độ địa phương. Trong thực tế, để thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công và dự toán ngân sách, địa phương hiện phải ban hành tới 3 nghị quyết khác nhau của Hội đồng nhân dân. Khi các luật này được hợp nhất, địa phương có thể gộp các nội dung trên vào chung một nghị quyết, giúp rút ngắn thời gian và tối giản hóa quy trình, thủ tục ban hành văn bản quy phạm một cách đáng kể.

Giải quyết “độ vênh” thời gian giải ngân vốn đầu tư công trong năm tài chính (Điều 15)

Đóng góp ý kiến chi tiết về năm tài chính tại Điều 15, đại biểu đề nghị Bộ Tài chính cần tính toán kỹ lưỡng mối quan hệ giữa năm tài chính và chu kỳ giải ngân đầu tư công.

Thông thường, năm tài chính được tính từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 hằng năm. Tuy nhiên, theo thông lệ của Luật Đầu tư công, khoảng thời gian từ ngày 31/12 của năm hiện hành đến ngày 31/1 của năm sau là giai đoạn giải ngân nguồn vốn đầu tư công cực kỳ lớn. Do đó, nếu dự thảo luật quy định gói gọn việc giải ngân trong 12 tháng của năm tài chính thì công tác giải ngân vốn đầu tư công tại các địa phương sẽ gặp khó. Đại biểu đề nghị Ban soạn thảo cần cân nhắc điều chỉnh để xử lý hài hòa điểm vênh này.

Bổ sung quy định mở đối với hành vi cấm liên quan đến nguồn vốn (Điều 17)

Liên quan đến quy định về điều cấm trong phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định hoặc điều chỉnh chủ trương đầu tư không có trong quy hoạch, kế hoạch, không xác định được nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, đại biểu cho rằng quy định này cần bảo đảm tính tương thích với các luật và nghị quyết khác đã được Quốc hội thông qua.

Để tránh tình trạng chồng chéo hoặc vô tình vi phạm khi Quốc hội ban hành các nghị quyết đặc thù trong tương lai, đại biểu kiến nghị cần bổ sung điều khoản loại trừ đối với các trường hợp dự án đặc biệt hoặc những điều kiện đặc thù không bắt buộc phải thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn.

Không đưa chỉ tiêu thu xuất nhập khẩu vào Nghị quyết Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (Điều 31)

Về điểm a, khoản 1, Điều 31 phân cấp cho Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định nguồn thu từ xuất, nhập khẩu, đại biểu chỉ ra sự bất cập trong thực tiễn.

Nguồn thu xuất, nhập khẩu hoàn toàn do các cơ quan Trung ương quản lý trực tiếp (như hải quan, thuế) thu và nộp về ngân sách Trung ương sử dụng; các địa phương hầu như không tham gia vào quá trình thu và cũng không được phân chia nguồn thu này.

Trong bối cảnh quản lý ngân sách và đầu tư công chặt chẽ theo KPI hiện nay, nếu đưa chỉ tiêu này vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh mà không thực hiện được thì việc đánh giá trách nhiệm thu đạt hay không đạt sẽ rất khó khăn và không rõ quy trách nhiệm cho cấp nào. Vì vậy, đại biểu đề xuất giao toàn bộ trách nhiệm chỉ tiêu thu xuất, nhập khẩu cho Bộ Tài chính điều hành thông qua hệ thống hải quan và thuế, không đưa vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Cần thiết kế hài hòa, công bằng cơ chế phân chia nguồn thu giữa Trung ương và địa phương (Điều 36)

Đóng góp cho quy định phân chia nguồn thu tại Điều 36, đại biểu đề xuất một phương thức tính toán linh hoạt và hài hòa hơn thay vì áp dụng một tỷ lệ cứng nhắc như 85/15 (địa phương giữ 85%, Trung ương thu 15%).

Đại biểu phân tích, nguồn thu của các địa phương rất đa dạng, thu từ tiền sử dụng đất, thuê đất đến các sắc thuế môi trường, VAT. Do đó, Trung ương nên điều tiết dựa trên tổng nguồn thu và mức độ đóng góp của các nguồn thu quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh, thành đó.

Đối với các địa phương tự cân đối được ngân sách, tỷ lệ điều tiết về Trung ương cần tính toán ở mức phù hợp. Với những tỉnh khó khăn, nguồn thu chủ yếu phụ thuộc vào tiền sử dụng đất, không có nhiều thu từ VAT hay thuế môi trường, Trung ương nên để lại toàn bộ nguồn thu từ đất để địa phương tập trung cho đầu tư công.

Ngược lại, các thành phố lớn và đô thị đặc biệt - nơi được Trung ương phân bổ nguồn vốn đầu tư công rất lớn phát triển hạ tầng đô thị sẽ tạo ra các giá trị thặng dư cao - cần có trách nhiệm điều tiết sòng phẳng và công bằng về ngân sách Trung ương để tái đầu tư.

Đề nghị cho phép hỗ trợ Ngân hàng Chính sách xã hội linh hoạt từ cả hai nguồn vốn (Điều 40)

Đối với Điều 40, dự thảo luật quy định các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước được bố trí dự toán từ hai nguồn chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, đại biểu đề xuất bổ sung cơ chế linh hoạt cho hoạt động ủy thác của địa phương qua Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện các chương trình, chính sách an sinh xã hội của Chính phủ trên địa bàn.

Hiện nay, nguồn đóng góp này của địa phương bị bó hẹp trong nguồn vốn đầu tư công. Hoạt động này mang lại hiệu quả rất lớn nhưng địa phương muốn hỗ trợ thêm cũng không thể thực hiện được do bị giới hạn nguồn đầu tư công, vốn cũng khó cho địa phương. Nếu cho phép sử dụng linh hoạt cả hai nguồn là đầu tư công và chi thường xuyên, cấp tỉnh sẽ chủ động hơn rất nhiều trong đóng góp thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Bố trí vốn gọn trong kỳ trung hạn và bổ sung ưu tiên đầu tư công liên vùng (Điều 61)

Tại khoản 1, Điều 61 dự thảo luật có 7 nội dung quy định về thời gian bố trí vốn thực hiện dự án, đại biểu đề xuất 2 nội dung quan trọng:

Thứ nhất, về việc phân loại và bố trí vốn cho các nhóm dự án A, B, C: Khi đã ghép kế hoạch đầu tư công và kế hoạch tài chính 5 năm làm một, việc bố trí vốn phải được thực hiện gọn gàng trong chu kỳ kế hoạch 5 năm đó, không để dời sang chu kỳ tiếp theo nhằm tránh chồng chéo với các kế hoạch mới. Các vấn đề về điều chỉnh, gia hạn hay chuyển tiếp chỉ nên xử lý trong quá trình thực hiện thực tế, còn định hướng ban đầu phải bảo đảm tính gọn gàng trong kế hoạch tài chính - kinh tế - xã hội 5 năm.

Thứ hai, về thứ tự phân bổ vốn đầu tư công: Đại biểu kiến nghị bên cạnh việc ưu tiên các dự án đầu tư công đặc biệt, quan trọng quốc gia, cần bổ sung thứ tự ưu tiên liền kề cho các dự án “đầu tư công liên vùng”. Thực tế cho thấy các dự án liên vùng thường gặp khó khăn do sự thiếu đồng bộ giữa các địa phương (ví dụ một cây cầu liên vùng, tỉnh này rất quyết tâm làm nhưng tỉnh giáp ranh lại không bố trí vốn thực hiện). Do đó, việc xếp thứ tự ưu tiên rõ ràng theo cấp độ: quốc gia, liên vùng, rồi đến các thứ tự khác sẽ giúp tháo gỡ điểm nghẽn này, thúc đẩy liên kết vùng phát triển mạnh, đúng mục tiêu.

HỒNG YẾN

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh