ĐỂ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ TRỞ THÀNH NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN

Kỳ cuối: Cải thiện quản trị, phục vụ người dân, doanh nghiệp

05:50, 08/09/2026

Nền tảng đã có, nguồn lực đã được bố trí để đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (CĐS). Bài toán khó nhất hiện nay là đưa từng nhiệm vụ đến sản phẩm cuối cùng và biến sản phẩm thành giá trị. Điều đó đòi hỏi đổi cách đặt hàng, cấp kinh phí, nghiệm thu và đánh giá cán bộ; lấy người sử dụng cùng hiệu quả thực tế làm thước đo.

Hướng dẫn người dân sử dụng nền tảng số, góp phần đưa chuyển đổi số đi vào đời sống.
Hướng dẫn người dân sử dụng nền tảng số, góp phần đưa chuyển đổi số đi vào đời sống.

Chỉ hoàn thành khi sản phẩm vận hành

Kết luận Hội nghị toàn quốc sơ kết Nghị quyết số 57, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ: “Khâu yếu nhất hiện nay là tổ chức thực hiện”. Trong cùng điều kiện, nơi người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, kỷ luật thực thi nghiêm thì có sản phẩm cụ thể; nơi triển khai hình thức, chậm trễ thì chuyển biến hạn chế.

Tổng Bí thư yêu cầu: “Các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được”. Như vậy, văn bản, kế hoạch, hội nghị hay bộ máy mới là điều kiện đầu vào. Kết quả cuối cùng phải là công nghệ được làm chủ, thủ tục được cắt giảm, năng suất tăng lên, doanh nghiệp (DN) phát triển và người dân được phục vụ thuận lợi hơn.

Vĩnh Long đã hoàn thành 57/61 nhiệm vụ trực tiếp từ Nghị quyết số 57 và 163/165 nhiệm vụ theo kết luận của BCĐ Trung ương. Kết quả trên cho thấy sự vào cuộc quyết liệt, tuy nhiên bên cạnh kết quả là những điểm nghẽn về nguồn lực, nhân lực, DN dẫn dắt và tổ chức thực hiện.

Năm 2026, tỉnh bố trí 756,178 tỷ đồng chi thường xuyên cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS. Trong 246,638 tỷ đồng đã giao cho đơn vị dự toán cấp tỉnh, quý I mới giải ngân 5,387 tỷ đồng. Khoảng cách giữa nguồn được bố trí và số đã chi phản ánh rõ khó khăn ở khâu chuẩn bị nhiệm vụ, thủ tục, định mức và khả năng chuyển kinh phí thành sản phẩm đủ điều kiện nghiệm thu, vận hành.

Giải bài toán này, không thể giải quyết tình trạng bằng cách thúc chi cho hết dự toán. Giải ngân nhanh cho nhiệm vụ chưa rõ đầu ra có thể tạo thêm hệ thống phân tán hoặc sản phẩm không có người sử dụng. Ngược lại, quy trình quá nặng về chứng từ, thiếu tiêu chí cho sản phẩm mới sẽ làm chậm nghiên cứu và khiến người thực hiện e ngại. Kỷ luật ngân sách đúng phải đồng thời chống chậm trễ và chống đầu tư dàn trải.

Có cơ chế đặt hàng, nghiệm thu

Trước khi giao nhiệm vụ phải xác định rõ cơ quan đặt hàng, đơn vị thực hiện, nơi sử dụng, sản phẩm cuối cùng, tiêu chí kỹ thuật, thời hạn, nguồn lực và phương án vận hành sau nghiệm thu. Với nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, DN hoặc đơn vị tiếp nhận cần tham gia xây dựng yêu cầu và cam kết sử dụng nếu sản phẩm đạt tiêu chuẩn.

Mỗi giai đoạn có thể được đánh giá bằng nguyên mẫu, kết quả thử nghiệm, mức độ sẵn sàng công nghệ, khả năng bảo hộ, chứng nhận hoặc cam kết của bên tiếp nhận.

Nhiệm vụ đạt yêu cầu được cấp nguồn lực cho bước tiếp theo; nhiệm vụ không đạt phải được điều chỉnh hoặc dừng đúng lúc. Cơ chế này chấp nhận rủi ro khoa học nhưng không buông lỏng trách nhiệm sử dụng ngân sách.

Báo cáo sơ kết cấp Trung ương chỉ ra nhiều kết quả sau nghiệm thu mới dừng ở quy trình, giải pháp kỹ thuật hoặc nguyên mẫu; việc đánh giá chưa dựa đầy đủ vào tác động thực tiễn, hiệu quả thương mại hóa và giá trị tạo ra. Vì vậy, bên cạnh hội đồng chuyên môn, cần có ý kiến của đơn vị sử dụng, dữ liệu vận hành và chỉ số tác động. Với sản phẩm số, tiêu chí còn phải bao gồm khả năng kết nối, an toàn thông tin, số người dùng và chi phí vận hành trong suốt vòng đời.

Đồng thời, sau một khoảng thời gian đưa vào sử dụng, nhiệm vụ cần được đánh giá lại: sản phẩm có được vận hành thường xuyên; có giúp giảm thời gian, chi phí; có tạo doanh thu, tăng năng suất hoặc giải quyết đúng vấn đề đặt ra hay không. Kết quả sau nghiệm thu là căn cứ để mở rộng, điều chỉnh hoặc chấm dứt hỗ trợ, đồng thời giúp hoàn thiện chính sách tài trợ cho nhiệm vụ sau.

Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 57 trong thời gian tới, đồng chí Trần Văn Lâu- Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng BCĐ 57 tỉnh, yêu cầu chuyển từ “khởi động, chạy đà” sang “tăng tốc”; từ “làm theo kế hoạch” sang “làm theo mục tiêu và sản phẩm”; từ “báo cáo tiến độ” sang “báo cáo hiệu quả”; từ “có làm” sang “làm đến nơi đến chốn”. Điều quan trọng là mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chịu trách nhiệm đến sản phẩm cuối cùng. Cơ quan phối hợp cần có phần việc và thời hạn cụ thể; vướng mắc vượt thẩm quyền phải được báo cáo kịp thời, không để hồ sơ đi vòng qua nhiều cấp mà không có nơi quyết định.

Đo bằng kết quả cụ thể

Việc đánh giá cán bộ cũng phải dựa trên kết quả thực hiện. Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu đưa kết quả thực hiện Nghị quyết số 57 thành tiêu chí quan trọng trong đánh giá cán bộ, tập thể và người đứng đầu; biểu dương người có sản phẩm, kết quả cụ thể, đồng thời nhắc nhở, kiểm điểm trường hợp triển khai hình thức, chậm trễ hoặc né tránh trách nhiệm. Chủ trương nâng tỷ lệ cán bộ có trình độ khoa học, công nghệ trong cấp ủy từ 5% lên 10-15% cũng nhằm tăng năng lực lựa chọn bài toán và kiểm tra kết quả bằng dữ liệu.

Để đánh giá không trở thành một báo cáo mới, bảng theo dõi nhiệm vụ cần cho thấy sản phẩm đang ở trạng thái nào, ai chịu trách nhiệm, có bao nhiêu người sử dụng, tiết kiệm bao nhiêu thời gian, chi phí hoặc tạo thêm giá trị gì. Một văn bản đúng hạn chỉ được ghi nhận ở phần tiến độ; chỉ khi quy định tháo được điểm nghẽn hoặc sản phẩm đi vào vận hành mới có thể đánh giá tác động.

Tỉnh dự kiến tiếp tục hoàn thiện 10 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhiệm vụ, mức chi, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ số và CĐS cấp cơ sở. Đây là cơ hội để cụ thể hóa cơ chế đặt hàng, khoán theo kết quả, chia sẻ rủi ro, nghiệm thu sản phẩm và trách nhiệm sau nghiệm thu thành quy trình dễ thực hiện.

Từ quyết tâm chính trị đến giá trị phát triển là một quá trình được đo bằng kết quả cuối cùng. Khi nhiệm vụ có người đặt hàng, có nơi sử dụng, có sản phẩm và người chịu trách nhiệm; khi nguồn lực được giải phóng và kỷ luật thực thi được giữ vững, Nghị quyết số 57 mới thật sự trở thành động lực nâng năng suất, cải thiện quản trị và phục vụ người dân, DN.

Đồng chí Trần Văn Lâu- Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng BCĐ 57 tỉnh yêu cầu tập trung đầu tư, nâng cấp hạ tầng và thiết bị phục vụ CĐS, nhất là tại cấp xã- nơi trực tiếp giải quyết công việc cho người dân. Việc đầu tư phải được rà soát từ đường truyền, thiết bị đầu cuối, thiết bị số hóa, chữ ký số đến hệ thống họp trực tuyến và an toàn thông tin, theo nguyên tắc “đúng nhu cầu, ưu tiên dùng chung, đồng bộ cấu hình, tránh manh mún, lãng phí”. Cùng với hạ tầng, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu chú trọng xây dựng “con người CĐS”, bồi dưỡng theo vị trí việc làm cho 3 nhóm: cán bộ lãnh đạo, quản lý; công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính; cán bộ phụ trách công nghệ thông tin, CĐS. Nội dung tập huấn phải bám sát thực tiễn, đồng thời phát huy vai trò Tổ công nghệ số cộng đồng và phong trào “Bình dân học vụ số”, nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Bài, ảnh: CAO HUYỀN
 

 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh