ĐỂ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ TRỞ THÀNH NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN

Kỳ 2: Mở đường cho nghiên cứu ứng dụng vào sản xuất

05:22, 05/09/2026

Năng lực nghiên cứu của trường, viện và doanh nghiệp (DN) đã có bước tiến, nhưng số đề tài có thể phát triển từ ý tưởng, thử nghiệm đến sản phẩm thương mại còn ít. Khoảng cách ấy chỉ có thể được thu hẹp khi DN tham gia đặt bài toán từ đầu, chính quyền tạo thị trường thử nghiệm và mỗi nhiệm vụ có sự phân công thực hiện gắn với trách nhiệm rõ ràng.

Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ số là một trong những nhiệm vụ quan trọng của trường ĐH trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Trong ảnh: Giờ thực hành của sinh viên Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long.
Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ số là một trong những nhiệm vụ quan trọng của trường ĐH trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Trong ảnh: Giờ thực hành của sinh viên Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long.

Nhiều kết quả nghiên cứu, ít sản phẩm đến thị trường

Sau 18 tháng thực hiện Nghị quyết số 57, hướng công nghệ ưu tiên, chương trình nghiên cứu và mô hình liên kết đã dần được định hình.

Tuy nhiên, BCĐ 57 của Trung ương nhận định phần lớn bài toán công nghệ chiến lược vẫn ở giai đoạn xây dựng, lựa chọn, thẩm định hoặc chuẩn bị đặt hàng; số nhiệm vụ chuyển sang thử nghiệm, tạo sản phẩm và đưa ra thị trường còn ít. Khoảng cách không nhỏ nằm giữa một kết quả nghiên cứu đã được nghiệm thu và ứng dụng sản xuất một sản phẩm đủ tiêu chuẩn, có người mua, có khả năng sản xuất ở quy mô thực tế.

Tỉnh có lợi thế về hệ thống cơ sở đào tạo, đội ngũ nghiên cứu và ngành kinh tế gắn với nông nghiệp, chế biến, môi trường, xây dựng. Sau hợp nhất, 71 tổ chức chủ trì 160 nhiệm vụ khoa học của tỉnh; trong đó 11 tổ chức chủ trì là DN, chiếm 15,49%, và hơn 50 DN tham gia hoặc phối hợp nghiên cứu. Có thể thấy, DN đã bước vào hệ sinh thái, nhưng số DN đứng ở vị trí chủ trì vẫn còn khiêm tốn.

Một số dự án từ trường ĐH đã tìm được đường đến nhà đầu tư. Tại Ngày trình diễn dự án năm 2025 của ĐH Trà Vinh, 5/7 dự án gọi vốn thành công, nhận tổng cộng 1,4 tỷ đồng tiền mặt; một dự án được đầu tư bằng 100 con bò. Nhà trường cũng thí điểm chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, cho phép tăng tối đa 15% kinh phí, 50% thời gian đối với đề tài đặt hàng và để tác giả hưởng đến 60% lợi nhuận khi thương mại hóa tài sản trí tuệ.

Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long đã được cấp 4 bằng độc quyền sáng chế. Hội nghị quốc tế IMEDS 2025 do trường tổ chức có 159 bài báo khoa học và hơn 170 tác giả đăng ký tham dự. Đây là nền tảng để mở rộng hợp tác, nhưng kết quả nghiên cứu chỉ tạo thêm giá trị khi đi vào sản xuất. Yêu cầu đặt ra là cần “có chính sách khuyến khích DN tham gia đặt hàng, hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ”.

PGS.TS Diệp Thanh Tùng- Phó Giám đốc ĐH Trà Vinh, cho biết kinh phí nghiên cứu và đổi mới sáng tạo vẫn chủ yếu dựa vào nguồn thu của trường; vốn xã hội hóa, hợp tác DN và đầu tư mạo hiểm còn hạn chế. Địa phương chưa có quỹ đầu tư mạo hiểm cung cấp vốn mồi; nhân lực am hiểu định giá công nghệ, tài sản trí tuệ còn thiếu; phần lớn DN trên địa bàn có quy mô nhỏ, năng lực hấp thụ công nghệ chưa cao. Vì vậy, một ý tưởng tốt vẫn có thể dừng lại nếu không có tiền cho giai đoạn thử nghiệm, chuyên gia hoàn thiện sản phẩm và bên chấp nhận sử dụng đầu tiên.

Nhìn chung, khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa thường xuất hiện khi: bài toán chưa xuất phát từ nhu cầu đủ rõ; thiếu vốn và hạ tầng để phát triển nguyên mẫu thành sản phẩm; việc kiểm định, chứng nhận, định giá và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn khó; cuối cùng là thiếu khách hàng đầu tiên để kiểm chứng thị trường. Cơ chế đặt hàng, đồng đầu tư, mua sản phẩm đầu tiên, thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận chưa đồng bộ; nhiều kết quả sau nghiệm thu mới dừng ở quy trình, giải pháp kỹ thuật hoặc nguyên mẫu.

Cùng tham gia từ đầu

Nếu trường, viện tự lựa chọn đề tài, hoàn thành nghiên cứu rồi mới tìm DN tiếp nhận, kết quả có thể không phù hợp với nhu cầu thị trường hoặc khó triển khai ở quy mô sản xuất. Vì vậy, DN cần tham gia ngay từ khâu xác định bài toán, xây dựng yêu cầu đầu ra, đồng đầu tư, thử nghiệm và tiếp nhận sản phẩm đạt tiêu chí.

PGS.TS Lương Minh Cừ- Hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long- cho rằng trong mối liên kết “Nhà nước- Nhà trường- Nhà DN”, DN phải là “chủ thể đặt hàng và thụ hưởng”.

Sinh viên Khoa Nông nghiệp Trường ĐH Cửu Long thực hành trong mô hình nông nghiệp công nghệ cao, gắn đào tạo và nghiên cứu với sản xuất.
Sinh viên Khoa Nông nghiệp Trường ĐH Cửu Long thực hành trong mô hình nông nghiệp công nghệ cao, gắn đào tạo và nghiên cứu với sản xuất.

Cụ thể hóa định hướng này, Trường ĐH Cửu Long dự kiến phối hợp với DN thành lập trung tâm nghiên cứu ứng dụng; mời chuyên gia tham gia giảng dạy, hướng dẫn và đánh giá sinh viên. Qua đó, yêu cầu của thực tiễn sản xuất và thị trường lao động được đưa vào quá trình đào tạo, nghiên cứu.

“Nhà trường sẽ thực hiện khoán sản phẩm khoa học đến nhóm nghiên cứu mạnh, ưu tiên nguồn lực cho những đề tài có khả năng ứng dụng và được DN cam kết đối ứng kinh phí”, PGS.TS Lương Minh Cừ nhấn mạnh.

Liên kết đào tạo với nghiên cứu và chuyển giao công nghệ sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời rút ngắn khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến thực tiễn.

Bên cạnh đó, chính quyền cũng có vai trò đặt hàng, nhất là với những bài toán công mà một DN riêng lẻ khó tạo thị trường ban đầu, như quản lý đô thị, nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, môi trường, y tế, giáo dục và dịch vụ công.

TS Đào Huy Hoàng- Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Xây dựng Miền Tây, đề xuất: “Các sở, ban, ngành địa phương cần mạnh dạn đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ, phân bổ vốn và nguồn lực nghiên cứu cho cơ sở giáo dục ĐH”.

Đặt hàng không có nghĩa là giao một đề tài chung chung. Hồ sơ nhiệm vụ cần nêu rõ vấn đề phải giải quyết, đơn vị sẽ sử dụng, tính năng hoặc hiệu quả cần đạt, thời gian, nguồn lực, quyền sở hữu kết quả và cách phân chia lợi ích.

Đơn vị đặt hàng phải theo nhiệm vụ đến giai đoạn thử nghiệm và tiếp nhận, không dừng trách nhiệm sau khi ký hợp đồng; DN tham gia phải góp dữ liệu, chuyên gia, môi trường thử nghiệm hoặc nguồn vốn phù hợp.

Tỉnh đang dự kiến triển khai 11 công nghệ chiến lược, từ trí tuệ nhân tạo, thiết bị bay không người lái, công nghệ sinh học đến chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch và năng lượng xanh. Và, danh mục chỉ trở thành động lực khi được chuyển thành những bài toán vừa sức, gắn với sản phẩm chủ lực và nhu cầu cụ thể của địa phương. Mỗi nhiệm vụ cần trả lời được ai cần sản phẩm, ai trả chi phí thử nghiệm, ai chịu rủi ro kỹ thuật và ai đưa kết quả ra thị trường.

Nhà nước kiến tạo thể chế, đặt hàng bài toán công và hỗ trợ rủi ro ban đầu; trường, viện tạo tri thức và công nghệ; DN tổ chức sản xuất, phát triển thị trường. Khi 3 phía cùng tham gia từ đầu và lợi ích được phân chia minh bạch, kết quả nghiên cứu mới có cơ hội vượt khỏi phòng thí nghiệm đi vào sản xuất, trở thành sản phẩm, doanh thu và lời giải cho những vấn đề của địa phương.

Nghị quyết số 57 xác định trường ĐH là một chủ thể quan trọng trong nghiên cứu, đào tạo nhân lực và đổi mới sáng tạo. Vai trò ấy được đo bằng số đề tài, công bố hoặc văn bằng bảo hộ. Trường ĐH cần cùng DN và địa phương xác định bài toán; tổ chức nghiên cứu, thử nghiệm; bảo hộ tài sản trí tuệ; đào tạo nhân lực vận hành và chuyển giao kết quả. Hiệu quả cuối cùng là công nghệ được ứng dụng, sản phẩm được thương mại hóa và giá trị tạo ra cho kinh tế- xã hội.

(Còn tiếp)

Bài, ảnh: CAO HUYỀN
 

 

 

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh