Người con ưu tú của quê hương cù lao Ông Hổ

07:29, 22/08/2026

Ở cù lao Ông Hổ hơn một thế kỷ trước, cậu bé Tôn Đức Thắng (Hai Thắng) đã lớn lên trong tình yêu thương của gia đình, làng xóm và những bài học đầu tiên về cách làm người. Cũng từ đây, người thanh niên Hai Thắng rời quê, bước vào hành trình cách mạng và dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước.

Du khách tham quan Di tích Quốc gia đặc biệt Chủ tịch Tôn Đức Thắng, tìm hiểu về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Bác Tôn.
Du khách tham quan Di tích Quốc gia đặc biệt Chủ tịch Tôn Đức Thắng, tìm hiểu về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Bác Tôn.

Cù lao nghĩa tình, người con ưu tú

Từ bên kia sông Hậu nhìn về cù lao Ông Hổ, vùng đất nay thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh An Giang, hiện lên bình dị với những xóm làng ven sông.

Theo ông Phạm Văn Chua- Phó Trưởng Ban Quản trị Đình thần Mỹ Hòa Hưng, tên gọi cù lao Ông Hổ gắn với một câu chuyện dân gian về ông Hổ nghĩa tình. Ngày trước, một gia đình làm nghề câu lưới đã cứu một cá thể hổ con, trên một về lục bình trôi trên sông. Nghĩ là mèo, hai vợ chồng mang về nuôi.

Con vật lớn lên thành hổ nhưng rất hiền. Sau khi vợ chồng chủ nhà qua đời, ông Hổ cũng bỏ đi. Nhưng cứ đến ngày giỗ, ông Hổ lại mang một con heo về đặt trước nhà. Cảm động trước tình cảm ấy, người dân gọi vùng đất này là cù lao Ông Hổ.

Câu chuyện dân gian mộc mạc ấy góp phần tạo nên sắc thái riêng của vùng đất bên sông Hậu. Cũng tại đây, năm 1888, cậu bé Tôn Đức Thắng- người con cả trong gia đình nên thường được gọi là Hai Thắng- cất tiếng khóc chào đời.

Từ nhỏ, Tôn Đức Thắng được cha là cụ Tôn Văn Đề cho học chữ Nho và chữ Quốc ngữ ở nhiều nơi. Người thầy đầu tiên của ông là chí sĩ Nguyễn Thượng Khách, người tham gia truyền bá tư tưởng Đông Kinh Nghĩa Thục ở Nam Bộ. Những bài học về cách làm người, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc trở thành một phần hành trang của chàng thanh niên Hai Thắng.

PGS.TS Võ Văn Thắng- nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH An Giang, nhận định: “Nhân cách và tinh thần Tôn Đức Thắng là sự kết tinh giữa cội nguồn văn hóa, sự tôi luyện trong thực tiễn và ý chí tự rèn luyện không ngừng”.

Năm 1906, ở tuổi 18, Hai Thắng rời quê đến Sài Gòn. Là học sinh Trường Bá Nghệ, chàng thanh niên Tôn Đức Thắng hòa mình vào phong trào công nhân, trở thành một trong những nhân tố nòng cốt của phong trào công nhân thợ máy ở Sài Gòn.

Một đời tận hiến

Giữa năm 1916, Tôn Đức Thắng bị chính quyền thực dân Pháp bắt đi lính thợ, làm thợ máy phục vụ Hải quân Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tháng 4/1919, trên Biển Đen, người thợ máy trẻ đã kéo lá cờ đỏ trên tàu tuần dương hạm, thể hiện sự phản đối chiến tranh và ủng hộ Nhà nước Xô viết non trẻ.

Theo PGS.TS Võ Văn Thắng, hành động ấy thể hiện lòng dũng cảm, tinh thần yêu chuộng hòa bình và tầm nhìn vượt khỏi phạm vi dân tộc của Bác Tôn.

Bác Tôn từng nói: “Tôi tin rằng bất cứ người Việt Nam yêu nước nào có mặt trong phút giây lịch sử đó ở Biển Đen cũng không thể hành động khác như tôi đã làm bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù bọn đế quốc, trước hết đó là yêu cách mạng và căm thù những kẻ chống lại nó”. Năm 1920, trở về nước, trước cảnh công nhân bị bóc lột, đời sống cơ cực, Bác Tôn cùng các đồng chí bí mật thành lập Công hội đỏ đầu tiên, tiền thân của tổ chức Công đoàn Việt Nam.

Năm 1925, tại xưởng Ba Son, Bác Tôn và các đồng chí tổ chức cuộc bãi công với hơn 1 ngàn công nhân tham gia, đòi tăng lương, giảm giờ làm cùng một số yêu cầu khác. Sau 9 ngày đấu tranh, chủ xưởng phải chấp nhận yêu cầu của công nhân.

Theo PGS.TS Võ Văn Thắng, ý nghĩa của cuộc bãi công Ba Son 1925 vượt khỏi những yêu cầu kinh tế, đánh dấu bước chuyển của phong trào công nhân Việt Nam từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác vì mục tiêu chính trị. “Bãi công Ba Son 1925 là thắng lợi của những người thợ máy, tiếng nói đầu tiên khẳng định công nhân Việt Nam đã bước lên vũ đài lịch sử với ý thức chính trị sắc bén và tinh thần đoàn kết quốc tế”, PGS.TS Võ Văn Thắng nhận định.

Những hoạt động của Bác Tôn đã gây sự chú ý của mật thám Pháp. Tháng 7/1929, Bác Tôn bị mật thám Pháp bắt. Những năm tháng tại Côn Đảo tiếp tục thử thách ý chí của người chiến sĩ cách mạng. Tại “địa ngục trần gian”, Bác Tôn vẫn giữ vững khí tiết, biến nhà tù thành trường học cách mạng.

Năm 1933, tại hầm xay lúa, Bác Tôn được đưa làm “cặp rằng”. Theo chị Lê Thị Cẩm Trinh, thuyết minh viên Di tích Quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, đây là một trong những âm mưu của thực dân Pháp nhằm dùng những tù nhân “anh chị” để hãm hại Bác Tôn. Nhưng Bác Tôn không dùng bạo lực với những người tù. Người cùng làm việc, không đánh đập ai và dần cảm hóa họ bằng trí dũng, lòng nhân hậu.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Tôn trở về tiếp tục gánh vác những trọng trách lớn của Đảng và Nhà nước. Người cống hiến trọn đời cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng lãnh đạo nhân dân đi qua hai cuộc kháng chiến đến ngày đất nước thống nhất.

Trọn nghĩa với quê hương, đất nước

92 năm tuổi đời, gần 70 năm hoạt động cách mạng, Bác Tôn đã đảm nhiệm nhiều trọng trách, có những cống hiến to lớn đối với cách mạng Việt Nam và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Ở bất kỳ cương vị nào, bác Tôn vẫn giữ sự giản dị, khiêm nhường của người lao động và một lòng với lý tưởng độc lập dân tộc. Người cũng luôn biết quy tụ, gắn kết các tầng lớp nhân dân.

Sau ngày đất nước thống nhất, Chủ tịch Tôn Đức Thắng trở về cù lao Ông Hổ. Vị Nguyên thủ quốc gia khi ấy vẫn là “anh Hai Thắng” thân thuộc của bà con xóm làng. Bác Tôn không muốn tổ chức đón tiếp linh đình. Người ghé thăm người dân, hỏi chuyện cuộc sống, việc học hành của con em và những đổi thay nơi quê nhà.

Ông Tôn Đức Thái, cháu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, khi ấy còn nhỏ nhưng vẫn nhớ hình ảnh người ông giữa vòng tay bà con: “Bà con lối xóm lại đông lắm, còn tôi lúc đó còn nhỏ nên không có lại gần được mà chỉ đứng nhìn thôi. Mình nhìn và quan sát, thấy ông đơn giản, ông mặc áo sơ mi trắng, quần ka ki, mang dép râu”.

Hình ảnh ấy, sau nhiều năm, vẫn được người dân cù lao Ông Hổ nhắc lại như một ký ức đẹp về vị Chủ tịch nước trở về quê mà vẫn giữ nguyên dáng vẻ của “anh Hai Thắng” năm nào.

Ngôi nhà nơi Bác Tôn sinh ra và lớn lên hiện được gìn giữ trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Năm 2012, được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt. Trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, cùng với ngôi nhà sàn Nam Bộ của gia đình, Đền tưởng niệm và Nhà trưng bày còn lưu giữ nhiều hình ảnh, hiện vật gắn với cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Tôn.

Hôm nay, cù lao Ông Hổ đổi thay từng ngày. Nhưng giữa nhịp sống mới, câu chuyện về người con năm xưa vẫn được kể lại qua từng hiện vật, mái nhà và những ký ức của người dân quê.

Từ cù lao Ông Hổ, một người con đã đi qua gần trọn thế kỷ với đất nước. Khi trở về, người vẫn là “anh Hai Thắng” giản dị của quê nhà. Có lẽ, đó cũng là cách đẹp nhất để nói về một cuộc đời tận hiến- sống trọn nghĩa với quê hương, đất nước và Nhân dân.

Bài, ảnh: TRẦN NGỌC
 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh