Mã số vùng trồng (MSVT) trở thành “tấm hộ chiếu” quan trọng, giúp đưa nông sản địa phương chinh phục thị trường khó tính. Tuy nhiên, khi số lượng MSVT ngày càng tăng, yêu cầu quản lý, giám sát và sử dụng đúng quy định là cần thiết.
Để tháo gỡ khó khăn, ngành nông nghiệp tỉnh đang tập trung quản lý, nhằm bảo vệ uy tín nông sản, duy trì, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng giá trị sản xuất cho người dân.
![]() |
| Cần nâng cao nhận thức của nông dân về xây dựng mã số vùng trồng. |
Tỉnh có 936 mã số vùng trồng
Thời gian qua, ngành nông nghiệp tỉnh đã duy trì và mở rộng vùng nguyên liệu, vùng sản xuất tập trung đối với nông sản chủ lực gắn với chuỗi giá trị; hỗ trợ phát triển MSVT, chỉ dẫn địa lý bảo đảm truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh có 936 MSVT với trên 33,4 ngàn hecta.
Trong đó, có 735 MSVT xuất khẩu, với gần 27 ngàn hecta, đủ điều kiện xuất khẩu sang thị của Trung Quốc, Hoa Kỳ, New Zealand, EU, Hàn Quốc, Úc,... gồm: sầu riêng, chôm chôm, nhãn, khoai lang, bưởi, dừa; 201 MSVT nội địa với trên 6,4 ngàn hecta, gồm: nhãn, mít, sầu riêng, cam, bưởi, măng cụt, lúa, ổi, rau các loại; 70 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu sầu riêng, dừa, chôm chôm, xoài,...
Để nông sản Việt Nam vươn xa, có thị trường tiêu thụ ổn định, thời gian qua, ngành nông nghiệp đã nỗ lực đàm phán với các nước để nông sản Việt Nam được xuất khẩu bằng đường chính ngạch, nâng giá trị của nông sản, nâng cao thu nhập cho nông dân.
Tuy nhiên, theo ngành chức năng, công tác giám sát vùng trồng, cơ sở đóng gói sau khi được cấp MSVT vẫn còn nhiều hạn chế.
Nguyên nhân là do công tác kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, cán bộ ít và vùng trồng, cơ sở đóng gói nhiều chủng loại cây trồng, thời gian thu hoạch khác nhau. Liên kết tiêu thụ giữa doanh nghiệp và HTX, tổ hợp tác, vùng trồng chưa được chặt chẽ. Việc quản lý MSVT, sử dụng MSVT chưa có cơ chế, quy định rõ ràng, thiếu chặt chẽ dẫn đến ảnh hưởng uy tín của vùng sản xuất, ảnh hưởng đến việc duy trì MSVT, khiến chuỗi liên kết thiếu bền vững.
Giám đốc một HTX có MSVT sầu riêng cho biết: Ở một số vùng sản xuất nông dân không ghi chép nhật ký canh tác; một số chủ sở hữu MSVT chưa ý thức bảo vệ MSVT, để xảy ra tình trạng chưa liên kết sản xuất theo quy trình chung; chất lượng sản phẩm không đồng đều.
Để đáp ứng nhu cầu thị trường
Ông Nguyễn Văn Trưng- Giám đốc HTX Nông nghiệp Chánh An (xã Cái Nhum) cho biết: Hiện nay việc quản lý MSVT, mã số cơ sở đóng gói còn nhiều kẽ hở. Nhiều đơn vị chưa có MSVT nhưng vẫn “mượn” hoặc mua lại của đơn vị khác để xuất khẩu, gây mất uy tín trên thị trường. Áp lực về năng suất khiến một bộ phận nông dân lạm dụng phân thuốc hóa học và thuốc kích thích, dẫn đến nguy cơ bị trả hàng hoặc cấm nhập khẩu từ thị trường khắt khe.
Theo ngành nông nghiệp, để được nhập khẩu bằng đường chính ngạch thì tùy thuộc vào quy định của nước nhập khẩu, phải có MSVT hoặc chứng nhận hữu cơ.
Cụ thể như, Trung Quốc chỉ cần có MSVT, trong khi EU, Mỹ, Úc tùy thuộc mặt hàng xuất khẩu sẽ quy định có MSVT hay chứng nhận hữu cơ hoặc vừa có MSVT vừa có chứng nhận hữu cơ. Vào cuối năm 2025, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Nghị định thư cho phép nhậu khẩu mít tươi và nhãn tươi. Nhưng tỷ lệ diện tích có MSVT đối với 2 loại nông sản này còn rất thấp (mít 4%, nhãn 5%).
Ông Nguyễn Thanh Bình- Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV thông tin: Chi cục sẽ tiếp tục hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu nông sản và chương trình xúc tiến thương mại nông sản; bảo đảm truy xuất nguồn gốc, xây dựng MSVT, mã số cơ sở đóng gói nhằm đáp ứng tốt cho thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước; tăng cường giám sát việc sử dụng MSVT, đặc biệt việc mua, bán sản phẩm ngoài MSVT. Đồng thời, nắm bắt những quy định, hàng rào kỹ thuật mới của thị trường xuất khẩu, nhất là điều kiện liên quan đến nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường đối với sản phẩm nông nghiệp để kịp thời có phương án, giải pháp tổ chức, quản lý sản xuất nông nghiệp phù hợp, bảo đảm duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng nông sản chính ngạch.
Ông Lê Văn Dũng- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Cửa thị trường xuất khẩu đã mở, nhưng nếu chúng ta không nhanh chóng xây dựng MSVT và tổ chức sản xuất đúng quy trình, quy định của nước nhập khẩu- chúng ta tự đóng cửa để nhốt mình.
Thời gian tới, ngành nông nghiệp sẽ quy hoạch vùng trồng, xác định vùng đất phù hợp, hỗ trợ kỹ thuật canh tác, tổ chức tập huấn về quy trình xử lý sinh vật gây hại, cách ghi chép nhật ký canh tác và sử dụng thuốc BVTV đúng danh mục. Tăng cường giám sát, kiểm tra định kỳ MSVT đã cấp. Kết nối doanh nghiệp, ký kết hợp đồng bao tiêu giữa doanh nghiệp xuất khẩu và vùng trồng đã có MSVT để bảo đảm đầu ra ổn định, tránh tình trạng bị ép giá.
Tiếp tục rà soát, hướng dẫn nhà vườn hoàn thiện hồ sơ để được cấp thêm MSVT xuất khẩu; bảo đảm hồ sơ, quy trình giám sát chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ nghiêm ngặt quy định nhập khẩu. Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý hồ sơ, nhật ký canh tác và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, đề nghị UBND xã tăng cường tuyên truyền, vận động người dân đăng ký xây dựng MSVT cho mặt hàng nông sản được xuất khẩu chính ngạch.
Bài, ảnh: NGUYÊN KHANG


