Tiếp tục chương trình làm việc, ngày 20/8/2026, Quốc hội (QH) tiến hành thảo luận tại Hội trường về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa- xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 (tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 Chương trình mục tiêu quốc gia) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Thường trực QH Đỗ Văn Chiến.
Tham gia phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu QH tỉnh Vĩnh Long quan tâm góp ý đối với dự thảo Nghị quyết của QH phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa- xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi phát biểu thảo luận tại hội trường. |
Đại biểu đồng tình với sự cần thiết ban hành Nghị quyết và đánh giá cao việc Chính phủ đề xuất hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.
Theo đại biểu, đây là bước đổi mới quan trọng nhằm khắc phục tình trạng nhiều chương trình cùng triển khai trên một địa bàn, có nội dung giao thoa, nhiều đầu mối quản lý, nhiều quy trình, thủ tục, trong khi nguồn lực có lúc còn phân tán. Tuy nhiên, quy mô chương trình càng lớn thì yêu cầu về chất lượng quản trị càng cao. Việc tích hợp lần này không đơn thuần là hợp nhất về mặt tổ chức hay tên gọi mà phải tạo ra phương thức quản trị mới, hiệu quả hơn, minh bạch hơn và hướng mạnh hơn đến người dân.
Từ thực tiễn tổ chức thực hiện thời gian qua, đại biểu tập trung góp ý vào các vấn đề sau:
Thứ nhất, phải thực sự đặt người dân vào vị trí chủ thể, nhất là trong giảm nghèo, phát triển sản xuất và xây dựng nông thôn mới.
Đại biểu đồng tình với định hướng ưu tiên hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đồng thời cho phép áp dụng cơ chế hỗ trợ, chuyển giao quyền sở hữu tài sản hình thành trong quá trình hỗ trợ phát triển sản xuất. Tuy nhiên, tư duy của chương trình cần chuyển mạnh từ “Nhà nước hỗ trợ cho người dân cái gì” sang “Nhà nước hỗ trợ để người dân có thể tự phát triển như thế nào”.
Theo đại biểu, giảm nghèo bền vững không thể chỉ được đo bằng số tiền hỗ trợ mà phải đánh giá được sau hỗ trợ người dân có việc làm hay không, thu nhập có tăng hay không, sinh kế có ổn định và có khả năng tự đứng vững hay không. Vì vậy, cần ưu tiên các dự án tạo việc làm, tăng thu nhập; liên kết sản xuất- chế biến- tiêu thụ; đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường; chuyển đổi số, thương mại điện tử; phát triển sản phẩm đặc trưng; du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch văn hóa; hỗ trợ phụ nữ, thanh niên và đồng bào dân tộc thiểu số khởi nghiệp, phát triển sản xuất.
Đại biểu đề nghị thay đổi căn bản cách đánh giá chương trình, không lấy tỷ lệ giải ngân làm thước đo cao nhất của thành công. Một dự án giải ngân 100% nhưng sau khi kết thúc, người dân vẫn nghèo, mô hình không tự duy trì được thì không thể coi là thành công. Ngược lại, dự án giúp người dân có sinh kế, tăng thu nhập, thoát nghèo bền vững và tự vận hành được sau hỗ trợ mới là hiệu quả thực chất.
Thứ hai, phát triển văn hóa phải lấy con người làm trung tâm, tránh đầu tư theo tư duy “xây cho đủ”.
Đối với lĩnh vực văn hóa, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo quan tâm đến bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, đầu tư thiết chế văn hóa, tu bổ di tích, phát triển công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và đào tạo đội ngũ văn nghệ sĩ.
Tuy nhiên, từ thực tế có nơi công trình được xây dựng nhưng thiếu kinh phí vận hành, thiếu nhân lực, thiếu nội dung hoạt động, dẫn đến sử dụng không hiệu quả, đại biểu đề nghị trước khi quyết định đầu tư một thiết chế văn hóa cần trả lời được ít nhất 4 câu hỏi: Ai sử dụng? Sử dụng vào việc gì? Tần suất sử dụng ra sao? Ai chịu trách nhiệm vận hành và kinh phí vận hành từ đâu?
Đối với di tích, đại biểu cho rằng cần chuyển từ tư duy “tu bổ cho xong” sang “bảo tồn để phát huy giá trị”; gắn di sản với giáo dục truyền thống, đời sống văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế phù hợp, nhưng tuyệt đối không thương mại hóa làm biến dạng giá trị di sản.
Theo đại biểu, thước đo của phát triển văn hóa không phải là xây thêm bao nhiêu công trình mà là đời sống tinh thần của người dân có thực sự tốt hơn hay không.
Thứ ba, trong giáo dục, cần ưu tiên thu hẹp khoảng cách cơ hội học tập.
Đại biểu đồng tình với định hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục, nhất là đầu tư trường lớp, thiết bị dạy học, nhà công vụ giáo viên và giáo dục nghề nghiệp tại địa bàn khó khăn. Tuy nhiên, đối với một chương trình mục tiêu quốc gia có phạm vi cả nước, công bằng về cơ hội học tập phải là ưu tiên hàng đầu. Không thể để tình trạng một nơi có trường học hiện đại, đầy đủ thiết bị, trong khi ở nơi khác học sinh không đủ phòng học, giáo viên vẫn thiếu và chưa có chỗ ở ổn định.
Do đó, nguồn lực cần tập trung vào những nhu cầu thiết yếu, có tính nền tảng như kiên cố hóa trường lớp; nước sạch, nhà vệ sinh; thiết bị dạy học tối thiểu; nhà công vụ giáo viên; hạ tầng số; hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn; giáo dục nghề nghiệp gắn với việc làm và phát triển đội ngũ giáo viên.
Thứ tư, về y tế và dân số, phải lấy y tế cơ sở và phòng bệnh làm nền tảng.
Đại biểu cơ bản đồng tình với các mục tiêu về sổ sức khỏe điện tử, quản lý sức khỏe theo vòng đời, nâng cao năng lực trạm y tế xã, sàng lọc trước sinh, sơ sinh và chăm sóc các nhóm dễ bị tổn thương.
Đại biểu lưu ý, chuyển đổi số không thể thay thế con người, thiết bị không thể thay thế năng lực chuyên môn. Muốn y tế cơ sở hoạt động hiệu quả phải bảo đảm đủ người, đủ thuốc, đủ thiết bị, có dữ liệu và có cơ chế vận hành phù hợp; đặc biệt, cần có chính sách đủ mạnh để thu hút và giữ chân bác sĩ, nhân viên y tế tại vùng khó khăn.
Về dân số, đại biểu đề nghị chính sách tăng tỷ lệ sinh cần được tiếp cận toàn diện, gắn với nhà ở, việc làm, giáo dục, chăm sóc trẻ em và cân bằng giữa công việc với gia đình; không nên chỉ dừng ở vận động người dân sinh thêm con.
NGỌC MAI


