Công nghệ sinh học trong phát triển bền vững tỉnh

06:53, 04/08/2026

Hội thảo khoa học “Ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong phát triển bền vững tỉnh Vĩnh Long: Kết nối nghiên cứu, chuyển giao và đổi mới sáng tạo”, do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp Sở KH-CN, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long vừa tổ chức.

Sản phẩm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực chăn nuôi được giới thiệu tại hội thảo. Ảnh: CAO HUYỀN
Sản phẩm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực chăn nuôi được giới thiệu tại hội thảo. Ảnh: CAO HUYỀN

Theo đó, sau sáp nhập, tỉnh có hệ sinh thái trải dài từ nội đồng qua vùng nước lợ đến cửa sông, ven biển; đồng thời tích hợp nguồn lực khoa học, công nghệ của cả 3 địa phương. Cơ hội mới cũng đặt ra yêu cầu cấp bách định vị lại hướng phát triển CNSH của tỉnh.

Theo Sở KH-CN, giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh triển khai 83 nhiệm vụ khoa học, công nghệ liên quan đến CNSH, với tổng kinh phí 142,25 tỷ đồng; gồm 9 nhiệm vụ cấp bộ, 51 nhiệm vụ cấp địa phương và 23 nhiệm vụ cấp cơ sở. Kinh phí đầu tư tăng gần 38% so với giai đoạn 2016-2020.

CNSH được ứng dụng từ sản xuất cây giống, canh tác đến xử lý chất thải. Nổi bật là công nghệ nuôi cấy mô tế bào được nghiên cứu, làm chủ và áp dụng tại xã Chợ Lách, xã Vĩnh Thành, phường Sơn Đông. Phương pháp này tạo cây giống đồng đều, tỷ lệ sống cao, phát triển nhanh, góp phần giảm chi phí đầu vào và tăng năng suất.

Ông Nguyễn Võ Nhất Duy- Phó Chánh Văn phòng, Sở Nông nghiệp và Môi trường giới thiệu quy trình tích hợp CNSH và tin sinh học trong phát triển giống cây trồng, cho rằng: Có thể xem promoter như “công tắc sinh học” quyết định việc kích hoạt hoặc ức chế gien dưới tác động của các tín hiệu sinh học và môi trường”.

Chọn giống dựa trên lai tạo và chọn lọc kiểu hình thường mất nhiều thời gian, chịu ảnh hưởng của môi trường. Sự phát triển của CNSH (Biotechnology), công nghệ giải trình tự thế hệ mới (Next Generation Sequencing- NGS), chỉnh sửa hệ gien (CRISPR/Cas) và tin sinh học (Bioinformatics) đã tạo bước chuyển sang khai thác dữ liệu hệ gien, nâng cao độ chính xác và hiệu quả chọn giống.

Hội thảo chỉ rõ những điểm nghẽn: sản xuất còn nhỏ lẻ; chi phí đầu tư thiết bị, đào tạo cao; thiếu chuyên gia đầu ngành; sự tham gia của doanh nghiệp và khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu. Trong khi đó, biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, dịch hại và yêu cầu về chất lượng nông sản đòi hỏi các giống cây trồng chống chịu tốt, năng suất cao, thích ứng điều kiện bất lợi.

Ông Nhất Duy đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu sinh học dùng chung và quy trình chọn giống dựa trên dữ liệu (Data-driven Breeding) cho cây trồng chủ lực như lúa, dừa, bưởi, xoài, sầu riêng, chôm chôm, khoai lang và cây ăn trái đặc sản. Đẩy mạnh chỉnh sửa các vùng điều hòa hệ gien; tích hợp trí tuệ nhân tạo, học máy trong phân tích dữ liệu hệ gien, dự đoán promoter, xác định gien ứng viên, góp phần rút ngắn thời gian, giảm chi phí nghiên cứu.

TS Trần Thanh Thy- Phó Trưởng Phòng Khoa học công nghệ- Tư vấn- Hợp tác quốc tế, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long, phân tích khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường qua mô hình doanh nghiệp spin-off nhằm khai thác, thương mại hóa tài sản trí tuệ, công nghệ và kết quả nghiên cứu của trường ĐH.

Khoa học chú trọng công bố, nghiệm thu đề tài nhưng thiếu tư duy thị trường; nhà trường thiếu cơ chế định giá tài sản trí tuệ để góp vốn; nhiều kết quả doanh nghiệp cần dừng ở quy mô phòng thí nghiệm. Bà Thy đề xuất “chuyển từ thỏa thuận nguyên tắc sang cơ chế cùng góp vốn, vận hành, chia sẻ lợi ích. Thay vì ký biên bản ghi nhớ hợp tác trên giấy cần kiến tạo cơ cấu cổ đông thực chất”.

Ông Ngô Văn Tán- Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cho rằng: Sự liên kết “4 nhà” (Nhà nước- Nhà trường- Nhà doanh nghiệp- Nhà nông) chưa thực sự khép kín; việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu và sự tham gia của doanh nghiệp đầu tư vào CNSH còn hạn chế.

Để CNSH trở thành động lực phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045, cần hoàn thiện chính sách; tăng kết nối cơ quan quản lý, trường- viện, doanh nghiệp và người nông dân; khuyến khích doanh nghiệp spin-off tại các trường ĐH.

Tỉnh cần ưu tiên CNSH ứng dụng cao gắn với chuyển đổi xanh; đào tạo nhân lực, thu hút chuyên gia, đầu tư hạ tầng nghiên cứu và huy động nguồn lực từ ngân sách, quỹ đầu tư, tín dụng xanh, doanh nghiệp.

Trong trồng trọt, 68,56ha lúa và dừa đã đạt chứng nhận hữu cơ EU và USDA. Tỉnh triển khai 36 mô hình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp trên diện tích 644,17ha, ứng dụng nấm Trichoderma, vi khuẩn Bacillus và nấm xanh Ometar. Qua đó, năng suất bình quân tăng 2 tấn/ha, lợi nhuận tăng khoảng 4 triệu đồng/ha. Trong chăn nuôi, CNSH góp phần cải tạo, nâng cao 95% tầm vóc đàn bò vàng địa phương; nghiên cứu dịch tễ bệnh viêm da nổi cục, phục vụ xây dựng bản đồ dịch tễ và chủ động phòng, chống dịch bệnh

CAO HUYỀN

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh