Đồng chí Trần Văn Lâu- Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XVI tỉnh, Trưởng BCĐ 57 tỉnh nhấn mạnh, khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) phải trở thành động lực tăng trưởng mới của tỉnh, kết quả thực hiện phải được thể hiện bằng sản phẩm cụ thể, tạo hiệu quả thực chất và giá trị thiết thực, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng của tỉnh.
![]() |
| Đồng chí Trần Trí Quang- Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh (thứ 3 từ trái sang) tham quan Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh. |
Hiệu quả sau 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia (Nghị quyết số 57), tỉnh đã tạo bước chuyển mạnh mẽ từ nhận thức sang hành động, từ triển khai theo từng nhiệm vụ riêng lẻ sang tiếp cận tổng thể, lấy KHCN, ĐMST và CĐS làm động lực phát triển mới.
Đến nay, nhiều nhiệm vụ đã có kết quả, sản phẩm cụ thể, tạo tác động lan tỏa trong các lĩnh vực trọng tâm, như cải cách hành chính, phát triển hạ tầng, dữ liệu số, đào tạo nhân lực, xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, quyết liệt việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhất là những nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi; kịp thời cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành chương trình, kế hoạch phù hợp với thực tiễn.
Điểm mới nổi bật là tỉnh đã chuyển mạnh từ chỉ đạo hành chính truyền thống sang chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu, thông qua việc duy trì Trang thông tin điện tử Nghị quyết số 57 và phần mềm thống kê, báo cáo chỉ tiêu thực hiện Nghị quyết số 57; tích hợp, theo dõi trên Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh của tỉnh.
Hiệu quả triển khai Nghị quyết số 57 được thể hiện rõ ở việc nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, tạo chuyển biến thực chất trong quản lý, điều hành, cung cấp dịch vụ công, phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số và hệ sinh thái ĐMST.
Nổi bật, kết quả thực hiện Bộ chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp theo Quyết định số 766/QĐ-TTg của tỉnh đã có bước bứt phá mạnh mẽ, từ vị trí 32/34 tỉnh, thành phố với 84,65 điểm vào cuối tháng 10/2025, vươn lên hạng 10/34 với 93,32 điểm vào 31/12/2025 và tiếp tục vươn lên xếp hạng 1/34 tỉnh, thành phố cả nước vào 20/6/2026.
So với đầu năm 2025 đến nay, nhiều nhiệm vụ đã có kết quả, sản phẩm cụ thể, tạo tác động lan tỏa trong các lĩnh vực trọng tâm như cải cách hành chính, phát triển hạ tầng, dữ liệu số, đào tạo nhân lực, xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh chuyển từ giai đoạn khởi động, thiết lập nền tảng sang giai đoạn tăng tốc triển khai, đo lường kết quả và tạo giá trị thực chất hơn cho phát triển kinh tế- xã hội.
Đến tháng 7/2026, tỉnh đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với 1.884/2.145 thủ tục hành chính (TTHC), gồm 796 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 1,088 ngàn dịch vụ công trực tuyến một phần; phê duyệt danh mục 589 TTHC không tiếp nhận hồ sơ giấy; 100% TTHC được thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh.
Hệ thống thông tin giải quyết TTHC đã tiếp nhận 588,038 ngàn hồ sơ, trong đó có 585,442 ngàn hồ sơ trực tuyến (đạt 99,56%) và 2,596 ngàn hồ sơ trực tiếp. Hoàn thành kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh điện tử VNeID phục vụ tra cứu dữ liệu dân cư.
Tỷ lệ công khai, minh bạch, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến và mức độ hài lòng đều đạt 100%; tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC đạt 99,96%. UBND tỉnh đã ủy quyền cho các sở, ngành thực hiện 334 TTHC; rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục với tỷ lệ giảm thời gian giải quyết bình quân trên 20%, qua đó tiết kiệm đáng kể chi phí thực hiện.
Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh vận hành ổn định, phục vụ hệ thống ứng dụng và cơ sở dữ liệu dùng chung của UBND tỉnh và các sở, ngành. Trung tâm Dữ liệu Tỉnh ủy đáp ứng yêu cầu vận hành các hệ thống thông tin, phần mềm, cơ sở dữ liệu dùng chung cho các cơ quan Đảng trên địa bàn tỉnh.
Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu tỉnh (LGSP) tích hợp 15 cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh, đồng thời kết nối và chia sẻ 23 dịch vụ dữ liệu với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia với LGSP; các nền tảng khác được đưa vào khai thác, sử dụng phục vụ tốt công tác chỉ đạo, điều hành và giải quyết TTHC.
Đóng góp vào tăng trưởng
Trong những tháng cuối năm 2026, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KHCN vào sản xuất, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông sản theo mô hình liên kết “3 nhà”, gắn kết kết quả nghiên cứu với hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Hoàn thiện Đề án Phát triển mạng lưới Trung tâm ĐMST tại tỉnh nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
![]() |
| Sinh viên tham gia một buổi Workshop về khởi nghiệp và tham quan Không gian thương hiệu và công nghệ tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số tỉnh. |
Về CĐS, tỉnh đặt mục tiêu đến cuối năm 2026 phủ sóng 5G đạt khoảng 50%; 100% hệ thống thông tin tại Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh được triển khai theo định hướng điện toán đám mây; duy trì 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình và TTHC không phụ thuộc địa giới hành chính; trên 80% hồ sơ TTHC được xử lý hoàn toàn trực tuyến, trên 90% người dân và doanh nghiệp hài lòng với việc giải quyết TTHC.
Tiếp tục phát triển hạ tầng số, mở rộng liên thông và chia sẻ dữ liệu phục vụ định danh, xác thực điện tử, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, hồ sơ sức khỏe điện tử, học bạ số và các tiện ích số khác.
Bí thư Tỉnh ủy- Trần Văn Lâu yêu cầu các cơ quan, đơn vị, nhất là đối với cấp ủy và người đứng đầu, phải tiếp tục tập trung quán triệt, tăng cường công tác tuyên truyền Nghị quyết số 57; Quyết định số 204 của Ban Bí thư phê duyệt Đề án CĐS trong các cơ quan Đảng; các chương trình, kế hoạch năm 2026 của BCĐ Trung ương, BCĐ tỉnh; gần đây nhất là Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý điểm nghẽn về CĐS.
Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: “Cấp ủy, người đứng đầu phải quán triệt và tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, đến người dân và doanh nghiệp nhận thức sâu sắc về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của KHCN, ĐMST và CĐS, của việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 57. Đây không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan Đảng, Nhà nước, MTTQ, đoàn thể mà còn toàn dân phải tham gia, để góp phần phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh”.
Bí Thư Tỉnh ủy nêu rõ, để triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 57, trước hết là nằm ở yếu tố con người, do đó, cần tiếp tục tăng cường tập huấn cho cán bộ, đồng thời mở rộng đối tượng đến những người lớn tuổi, người dân ở vùng sâu, vùng xa theo phương pháp “cầm tay chỉ việc”, để thực hiện ứng dụng KHCN, CĐS trong công việc, trong đời sống.
Kế đến là khâu tổ chức thực hiện đối với cấp ủy và người đứng đầu. Thứ ba là trang thiết bị phải được trang bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu CĐS. Thứ tư là tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách. Cuối cùng là khâu tổ chức thực hiện phải hiệu quả, thực chất, rõ sản phẩm, rõ kết quả.
Bí Thư Tỉnh ủy cũng lưu ý, cần quan tâm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), đẩy mạnh phát triển dữ liệu và các nền tảng dùng chung; tập trung rà soát, làm sạch, chuẩn hóa, kết nối, bảo đảm dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống”. Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cần nghiên cứu, đề xuất mô hình thí điểm hiệu quả để tiến tới triển khai, lan tỏa. Quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng KHCN, ĐMST và CĐS.
“KHCN, ĐMST và CĐS phải trở thành động lực tăng trưởng mới, là nền tảng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP của tỉnh. Kết quả thực hiện phải được thể hiện bằng sản phẩm cụ thể, tạo hiệu quả thực chất và giá trị thiết thực, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng của tỉnh”, Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh.
Vai trò của lãnh đạo các cấp được phát huy rõ nét trong định hướng, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát; người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Công tác chỉ đạo, điều hành được đổi mới, tăng cường dựa trên dữ liệu thực, thời gian thực qua các nền tảng số như: Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC), kết nối, tích hợp dữ liệu từ các hệ thống giám sát thực hiện Nghị quyết số 57, bộ chỉ số chỉ đạo, điều hành và đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, hệ thống theo dõi giải ngân vốn đầu tư công, hệ thống giám sát qua camera, nền tảng GIS… Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực và tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị.
Bài, ảnh: TUYẾT HIỀN



