GIỮ VỮNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG ĐỒNG BÀO KHMER TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC MỚI

Kỳ 2: Từ thực tiễn vùng đồng bào Khmer: Chính sách của Đảng là câu trả lời thuyết phục trước các luận điệu sai lệch trên không gian mạng

15:42, 01/08/2026

Những chủ trương nhất quán của Đảng, chính sách dân tộc ngày càng được hoàn thiện và triển khai đồng bộ, không chỉ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Khmer mà còn củng cố niềm tin, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính thực tiễn phát triển ấy là câu trả lời thuyết phục nhất trước mọi luận điệu sai lệch, kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo.

Đồng bào Khmer tại Vĩnh Long múa chào mừng Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây. Ảnh: Bá Thi
Đồng bào Khmer tại Vĩnh Long múa chào mừng Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây. Ảnh: Bá Thi

Trong khi trên không gian mạng, các tổ chức phản động lưu vong như KKF không ngừng vẽ nên một bức tranh u ám về đời sống đồng bào Khmer với những luận điệu như “đàn áp tôn giáo”, “bỏ rơi dân tộc” hay thậm chí là “thảm họa nhân đạo”, thì thực tế tại các phum, sóc vùng Tây Nam Bộ lại cho thấy một diện mạo hoàn toàn khác. Những ngôi chùa Phật giáo Nam tông khang trang, những cánh đồng lúa chín vàng trĩu hạt, tiếng nhạc ngũ âm rộn ràng trong các lễ hội… tất cả tạo nên một bức tranh đời sống sinh động, ổn định và đang từng bước phát triển. Chính thực tiễn đó là minh chứng rõ ràng, trực tiếp bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt trên không gian mạng.

Nhất quán trong quan điểm và hành động, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định đồng bào dân tộc Khmer là một bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở tư duy, tầm nhìn mới được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIV, chính sách dân tộc được triển khai theo nguyên tắc: bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển; nhấn mạnh vai trò chủ động, tự vươn lên của các dân tộc gắn với việc phát huy hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIV xác định phát triển nhanh, bền vững gắn với tiến bộ và công bằng xã hội là lựa chọn mang tính nền tảng. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại phiên khai mạc Đại hội ngày 20/1 cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng xã hội hài hòa, dân chủ và củng cố niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Từ Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 14/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI và Thông báo số 67-TB/TW ngày 14/3/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về “Công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer”; Nghị quyết số 21/NQ-TW của Bộ Chính trị về “Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010” và Kết luận số 28-KL/TW ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị về “Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2011 - 2020”, các chủ trương, chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào Khmer nói riêng từng bước được bổ sung, hoàn thiện.

Trên cơ sở đó, Nhà nước đã từng bước xây dựng và triển khai các chính sách ưu đãi, chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2014 - 2020, đồng thời định hướng xây dựng chiến lược phát triển toàn diện đối với đồng bào Khmer đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đặc biệt, Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/1/2018 của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới tiếp tục khẳng định sự quan tâm, định hướng nhất quán trong công tác dân tộc.

Những chủ trương, chính sách trên đã góp phần hình thành hệ thống chính sách tương đối đồng bộ đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer, tạo cơ sở huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thực hiện công bằng xã hội.

Không chỉ thể hiện qua chính sách, sức sống của vùng đồng bào Khmer còn hiện hữu rõ nét qua những mô hình cụ thể. Thực tế tại tỉnh Vĩnh Long cho thấy, thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia 1719, hàng trăm km đường giao thông nông thôn được hoàn thiện, hàng nghìn hộ dân được hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt và sinh kế. Từ chỗ thiếu vốn, thiếu tư liệu sản xuất, nhiều hộ đồng bào Khmer đã từng bước vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer tại địa phương giảm còn 1,6%, hộ cận nghèo còn 3,2%. Tại phường Ngã Năm, thành phố Cần Thơ, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều mô hình phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc, tạo điều kiện cho bà con tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Từ đó, nhiều mô hình hiệu quả được hình thành như đan lát, may gia công, sản xuất lúa chất lượng cao… góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer tại đây xuống chỉ còn 0,6%.

Ở lĩnh vực giáo dục và y tế, hệ thống trường dân tộc nội trú đã được phủ khắp các huyện có đông đồng bào Khmer sinh sống. Riêng tại khu vực Sóc Trăng cũ, nay thuộc thành phố Cần Thơ, hiện có 10 trường phổ thông dân tộc nội trú và 131 trường dạy chữ Khmer, góp phần gìn giữ tiếng nói, chữ viết truyền thống, đồng thời nâng cao dân trí và tạo nền tảng phát triển nguồn nhân lực tại địa phương. Song song đó, 100% hộ nghèo người Khmer được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, tạo điều kiện tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách thuận lợi.

Trong lĩnh vực văn hóa và tôn giáo, các giá trị truyền thống của đồng bào Khmer được tôn trọng và phát huy. Hiện có 453 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer đang hoạt động, trong đó nhiều chùa là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Tiếng nói, chữ viết và các lễ hội truyền thống như Chol Chnam Thmay, Ok Om Bok, Sene Dolta không chỉ được duy trì mà còn được tổ chức quy mô, trở thành nét đẹp văn hóa đặc sắc trong đời sống cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh đó, đội ngũ sư sãi cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng. Các tăng sinh tại Trường Bổ túc văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ không chỉ được đào tạo về giáo lý mà còn được trang bị kiến thức văn hóa, trở thành những người vừa “tốt đời, đẹp đạo”, có đóng góp tích cực cho sự phát triển của địa phương.

Từ những thực tiễn đó, có thể thấy rõ sự phiến diện trong các luận điệu sai lệch trên không gian mạng. Những cáo buộc về việc “xóa bỏ văn hóa” hay “ngăn cấm tôn giáo” hoàn toàn không phù hợp với thực tế khi Nhà nước đang hỗ trợ in ấn hàng chục nghìn quyển kinh Phật, cấp phát miễn phí nhiều loại báo, tạp chí bằng tiếng Khmer. Luận điệu về việc “bỏ rơi dân tộc” cũng không có cơ sở khi các chương trình mục tiêu quốc gia và mạng lưới y tế, giáo dục đang được triển khai sâu rộng tới từng phum, sóc. Những thông tin bị cắt ghép, xuyên tạc trên mạng không thể che lấp được niềm tin của đại đa số đồng bào Khmer vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Có thể khẳng định, chính sách dân tộc đúng đắn không chỉ góp phần nâng cao đời sống vật chất mà còn củng cố niềm tin, tạo nền tảng vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi đời sống ổn định, dân trí được nâng cao, mỗi người dân sẽ trở thành “lá chắn” tự nhiên trước những thông tin sai lệch, chủ động nhận diện và không bị lôi kéo, kích động.

Thực tiễn sinh động tại vùng Tây Nam Bộ hôm nay chính là minh chứng rõ ràng nhất, là câu trả lời thuyết phục nhất trước mọi luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng. Từ nền tảng đó, khối đại đoàn kết dân tộc tiếp tục được củng cố, tạo nên sức mạnh để vượt qua những thách thức mới trong kỷ nguyên số.

MINH THƯ

>> Kỳ cuối: Từ nhận diện đến hành động - phát huy vai trò của Đảng trong bảo vệ trận địa tư tưởng và khối đại đoàn kết dân tộc.

 

 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh