Ngành Giáo dục và Đào tạo: Khởi động sớm, chủ động trước ngưỡng chuyển mình chiến lược

19:06, 18/01/2026

Nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, trong bối cảnh hết sức đặc biệt, giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) Việt Nam không chỉ hoàn thành nhiều mục tiêu quan trọng, mà còn tạo dựng những nền tảng căn bản cho giai đoạn phát triển mới.

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Kim Sơn đã đánh giá toàn diện kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của ngành GD-ĐT; đồng thời chia sẻ những bước đi chủ động, quyết liệt của toàn ngành trong việc triển khai các nhiệm vụ chiến lược ngay từ năm bản lề, nhằm nắm bắt thời cơ, thực hiện thành công đột phá phát triển giáo dục, đào tạo.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV. Ảnh: chinhphu.vn
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV. Ảnh: chinhphu.vn

Hoàn thành sớm nhiều mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Phóng viên: Bộ trưởng có thể cho biết những kết quả quan trọng đạt được của ngành GD-ĐT trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Đại hội XIII) của Đảng - một nhiệm kỳ diễn ra trong bối cảnh hết sức đặc biệt?

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn: Nhiệm kỳ 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XIII là một giai đoạn đặc biệt đối với GD-ĐT. Đây là giai đoạn tiếp tục triển khai mạnh mẽ việc đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, cùng các chủ trương, định hướng lớn của Trung ương.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ; với nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và học sinh; cùng sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân, phụ huynh học sinh, ngành GD-ĐT đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhiều nội dung của Nghị quyết số 29-NQ/TW được triển khai hiệu quả, mang lại những kết quả trong 5 năm qua.

Trước hết, nói về những mục tiêu trong gia tăng cơ hội học tập cho người học. Quy mô của nền giáo dục tiếp tục được mở rộng ở tất cả các cấp học, từ giáo dục mầm non, phổ thông đến giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học. Tổng quy mô người học của hệ thống giáo dục quốc dân hiện đã vượt qua con số 24,5 triệu người, chưa kể số người tham gia các hình thức học tập nâng cao trình độ và học tập suốt đời.

Học sinh THCS tham gia Ngày hội trải nghiệm sáng tạo STEM. Ảnh: PHAN HÂN
Học sinh THCS tham gia Ngày hội trải nghiệm sáng tạo STEM. Ảnh: PHAN HÂN

Với quy mô đó, ngành GD-ĐT đã thúc đẩy mạnh mẽ việc bảo đảm và mở rộng cơ hội tiếp cận các điều kiện học tập cho người dân. Chúng ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục cho trẻ em 5 tuổi, giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; tỷ lệ xóa mù chữ đạt trên 99,5%, thuộc nhóm cao so với nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là mục tiêu quan trọng ngành GD-ĐT đã phấn đấu, đạt được.

Tỷ lệ người lao động qua đào tạo, huấn luyện, được cấp văn bằng, chứng chỉ đã đạt xấp xỉ 30%. Đây là chỉ tiêu được Đại hội XIII của Đảng xác định và đến nay cơ bản đã hoàn thành. Bên cạnh đó, tính đến tháng 12/2025, chúng ta đạt được khoảng 225 sinh viên trên một vạn dân, về cơ bản cũng hoàn thành mục tiêu đề ra cho giai đoạn 5 năm.

Có thể nói, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, ngành GD-ĐT đã cơ bản đạt được các chỉ tiêu đề ra về tiếp cận giáo dục.

Trong 5 năm qua, đổi mới giáo dục phổ thông được xác định là một trong những trọng tâm. Toàn ngành GD-ĐT đã hoàn thành triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 từ lớp 1 đến lớp 12 theo đúng lộ trình. Qua quá trình thực hiện, mục tiêu chuyển đổi từ nền giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện người học, chú trọng phát triển phẩm chất, năng lực và kỹ năng đã cơ bản đạt được. Công tác đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá; việc tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT và nhiều nội dung về giáo dục phổ thông khác cũng đạt nhiều kết quả quan trọng. Qua đánh giá của các đoàn giám sát của Quốc hội và cơ quan chức năng, việc đổi mới giáo dục phổ thông đã đạt được những mục tiêu cơ bản và nhiều yêu cầu đã đặt ra.

Kết quả giáo dục phổ thông đạt được ghi dấu ấn rõ nét cả về chất lượng giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn. Nhiều năm liền, Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia có kết quả tốt nhất tại các kỳ thi Olympic như: Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học và Tin học… trên toàn thế giới. Riêng năm 2025, tất cả các đội tuyển học sinh Việt Nam dự thi Olympic khu vực và quốc tế đều nằm trong top 10 quốc gia dẫn đầu tính theo số lượng huy chương Vàng; một số môn như Toán, Hóa học, kết quả còn ở nhóm cao hơn. Những thành tích này phản ánh kết quả giáo dục toàn diện của ngành trong 5 năm tiếp tục triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, 5 năm qua ghi nhận việc triển khai mạnh mẽ chủ trương tự chủ, huy động các nguồn lực xã hội, mang lại nhiều kết quả tích cực. Bộ GD-ĐT đã tham mưu Chính phủ ban hành và triển khai nhiều đề án quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, công nghệ 4.0. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học không ngừng mở rộng quy mô, cơ cấu ngành nghề và nâng cao chất lượng đào tạo; đặc biệt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật mũi nhọn phục vụ phát triển đất nước. Năm 2025 có những điều chỉnh căn bản về cơ cấu ngành nghề với sự ra đời của hàng trăm chương trình đào tạo mới thuộc các lĩnh vực công nghệ và kỹ thuật. Nhiều lĩnh vực như Toán - Thống kê, Công nghệ thông tin, Công nghệ kỹ thuật và Kỹ thuật ghi nhận mức tăng mạnh ở cả bậc đại học và sau đại học. Cụ thể, đến thời điểm tháng 12/2025, số lượng học sinh theo học các ngành công nghệ, kỹ thuật thuộc nhóm STEM đã đạt trên 33%. Đây là tỷ lệ rất quan trọng nhằm đạt mục tiêu cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Trường Đại học Trà Vinh trở thành Đại học thứ 13 của Việt Nam theo Quyết định số 73/QĐ-TTg, ngày 12/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: BÁ THI
Trường Đại học Trà Vinh trở thành Đại học thứ 13 của Việt Nam theo Quyết định số 73/QĐ-TTg, ngày 12/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: BÁ THI

Các cơ sở giáo dục đại học, cả công lập và ngoài công lập đã cải thiện rõ rệt các chỉ số chất lượng. Nhiều cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có mặt trong các bảng xếp hạng quốc tế, trong đó có nhóm 1.000 và thậm chí nhóm 500 trường đại học hàng đầu thế giới và châu Á.

Giáo dục nghề nghiệp ngày càng gắn chặt hơn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động. Nhiều cơ sở từng bước được đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện dạy và học được cải thiện rõ rệt so với các giai đoạn trước, từng bước tham gia vào các mạng lưới cơ sở đào tạo của khu vực và thế giới. Chất lượng đào tạo và kỹ năng nghề của người học không ngừng được nâng cao, đặc biệt là các kỹ năng phục vụ đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật, thợ lành nghề trong lĩnh vực công nghệ. Đây là những kết quả quan trọng của giáo dục nghề nghiệp trong giai đoạn vừa qua.

Về hạ tầng giáo dục, trong 5 năm qua, cơ sở vật chất phục vụ giáo dục từ mầm non, phổ thông đến giáo dục đại học tiếp tục được quan tâm đầu tư và từng bước được cải thiện. Mặc dù tốc độ gia tăng cải thiện cơ sở vật chất chưa được như mong muốn, song so với đầu nhiệm kỳ, tỷ lệ trường học được kiên cố hóa đã có sự gia tăng rõ rệt. Cụ thể, đến tháng 12/2025, tỷ lệ trường học kiên cố có những nơi đạt xấp xỉ 90% (đầu nhiệm kỳ, tỷ lệ này đạt trên 75%). Kết quả này phản ánh nỗ lực chung của toàn xã hội trong huy động và ưu tiên các nguồn lực cho GD-ĐT, bao gồm nguồn lực từ Nhà nước, xã hội và người dân.

Khi nhìn lại chặng đường 5 năm qua, không thể không nhắc tới giai đoạn ngành GD-ĐT phải chủ động ứng phó với những tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, đặc biệt trong giai đoạn 2020-2022, khi nhiều cơ sở giáo dục phải đóng cửa trong thời gian dài. Với tinh thần “ngừng đến trường nhưng không ngừng việc dạy và học”, toàn ngành đã kịp thời chuyển đổi hình thức tổ chức dạy học, trong đó dạy và học trực tuyến được triển khai rộng khắp trong toàn hệ thống GD-ĐT, qua đó góp phần hạn chế những tác động tiêu cực của đại dịch. Đồng thời, quá trình ứng phó với dịch bệnh cũng tạo ra cú hích quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành Giáo dục. Hệ thống bài giảng điện tử, học liệu số, học liệu mở và các phương thức đào tạo trực tuyến tiếp tục được phát triển và mở rộng, tạo nền tảng cho đổi mới giáo dục trong giai đoạn tiếp theo.

Một điểm nhấn quan trọng khác là chuyển đổi số. Ngành Giáo dục đã có những bước đi tiên phong trong chuyển đổi số và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu cho ngành. Từ năm 2022, cơ sở dữ liệu học sinh phổ thông đã cho phép việc đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT, xét tuyển đại học thực hiện hoàn toàn trên nền tảng số, trực tuyến. Đây là một kết quả quan trọng, góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và thuận lợi cho người học. Đồng thời, cơ sở dữ liệu về trường học, người học và đội ngũ giáo viên được xây dựng. Cơ sở dữ liệu về hồ sơ học tập suốt đời của người học, bao gồm hai hợp phần là học bạ số và văn bằng số, đã được triển khai và bước đầu kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia. Việc kết nối này góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến văn bằng, chứng chỉ, qua đó tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân và xã hội. Các cơ sở giáo dục đại học cũng đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học, quản lý và xây dựng mô hình trường học thông minh.

Có thể nói, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và bước đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy và học có thể được xem là những điểm sáng, thể hiện vai trò tiên phong của ngành Giáo dục trong quá trình hiện đại hóa và nâng cao chất lượng GD-ĐT.

Tập trung phát triển đội ngũ nhà giáo - nhân tố nền tảng, then chốt nhằm nâng cao chất lượng GD-ĐT- là dấu ấn quan trọng của ngành. Trong 5 năm qua, đội ngũ nhà giáo đã có sự phát triển cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng. Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ đã quan tâm, bổ sung một số lượng lớn biên chế cho ngành Giáo dục, nhằm bảo đảm yêu cầu “ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên, có trường học”, đặc biệt là tăng cường đội ngũ giáo viên cho giáo dục mầm non và tiểu học. Nhiều chính sách khuyến khích, đãi ngộ được ban hành, góp phần gia tăng đội ngũ nhà giáo, tăng cường sự gắn bó của giáo viên với nghề. Một tín hiệu tích cực là trong những năm gần đây, điểm trúng tuyển vào các cơ sở đào tạo giáo viên thuộc nhóm cao nhất. Chất lượng đầu vào ngành sư phạm được nâng lên là dấu hiệu rất đáng mừng, tạo nền tảng quan trọng cho nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, tác động trực tiếp đến chất lượng giáo dục trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trong các cơ sở giáo dục đại học tiếp tục gia tăng. Đến năm 2025, tỷ lệ này đã đạt trên 33%, phản ánh bước tiến tích cực trong nâng cao chất lượng đội ngũ. Chế độ, chính sách đối với giảng viên tiếp tục được rà soát, bổ sung và triển khai thời gian vừa qua.

Có thể khẳng định rằng, các mục tiêu, chỉ tiêu và yêu cầu được đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cũng trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đối với lĩnh vực GD-ĐT, về cơ bản đã được hoàn thành; trong đó, một số nội dung hoàn thành sớm và đạt kết quả tích cực.

Khởi động sớm nhiều công việc, không chờ đến sau Đại hội

Phóng viên: Trong các kết quả đạt được của nhiệm kỳ 5 năm, Bộ trưởng đánh giá như thế nào dấu ấn của ngành Giáo dục trong năm 2025, năm “bản lề” giữa hai nhiệm kỳ Đại hội của Đảng?

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn: GD-ĐT đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế - xã hội, cùng những mục tiêu phát triển mới được đặt ra trên cơ sở thực tiễn. Trước mục tiêu phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập trung bình cao, nền giáo dục Việt Nam thuộc nhóm 20 quốc gia có hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu thế giới, yêu cầu phát triển GD-ĐT phải đặt ra với một cường độ, tốc độ, quy mô, tính chất ở tâm mức mới, cao hơn so với giai đoạn trước.

Trước yêu cầu đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW vào tháng 8/2025; xác định mục tiêu đột phá phát triển GD-ĐT, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng GD-ĐT nhằm phát triển con người toàn diện, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước. Nghị quyết số 71-NQ/TW được ban hành có ý nghĩa định hướng quan trọng, tạo cơ sở cho những thay đổi mang tính chiến lược trong phát triển GD-ĐT thời gian tới. Các nội dung cốt lõi của Nghị quyết đã được đưa vào các dự thảo văn kiện của Đại hội XIV, làm căn cứ để tổ chức triển khai trong giai đoạn tiếp theo.

Tập trung hoàn thiện và triển khai Chương trình giáo dục mầm non mới song song, đồng bộ với việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Ảnh: TRUNG HIẾU
Tập trung hoàn thiện và triển khai Chương trình giáo dục mầm non mới song song, đồng bộ với việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Ảnh: TRUNG HIẾU

Ngay trong năm 2025, ngành GD-ĐT đã chủ động triển khai thực hiện các chương trình, nội dung và mục tiêu mới, không chờ đến sau Đại hội, với nhiều công việc được khởi động từ rất sớm.

Trên cơ sở các định hướng mang tính đột phá, tính hành động của Bộ Chính trị và Trung ương Đảng được thể hiện trong Nghị quyết số 71-NQ/TW, Bộ GD-ĐT đã tích cực tham mưu cho Chính phủ, trình Quốc hội xem xét, quyết định những điều chỉnh quan trọng về thể chế, tạo cơ sở pháp lý để triển khai hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết trong thời gian tới.

Ngay trong năm 2025, Bộ GD-ĐT đã trình Quốc hội xem xét 4 dự án luật quan trọng, gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi).

Bên cạnh đó, Bộ cũng tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành một số nghị quyết quan trọng, bao gồm: Nghị quyết về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; Nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Nghị quyết về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng GD-ĐT giai đoạn 2026 - 2035; Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để đột phá phát triển GD-ĐT...

Với việc ban hành các luật và nghị quyết nêu trên, có thể khẳng định rằng, các mục tiêu, yêu cầu và định hướng quan trọng của Nghị quyết số 71-NQ/TW đã được thể chế hóa tương đối đầy đủ. Trước mắt, Bộ GD-ĐT sẽ tiếp tục tập trung ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, các văn bản dưới luật, nhằm bảo đảm các luật, nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ, thực chất đối với GD-ĐT.

Có thể nói, với trọng tâm là hoàn thiện và đổi mới thể chế, 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính bản lề: vừa khép lại chặng đường 5 năm vừa qua, đồng thời mở ra giai đoạn đổi mới giáo dục tiếp theo, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của giáo dục và đào tạo trong thời gian tới.

“Bước sang năm 2026, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết 71-NQ/TW tiếp tục được cụ thể hóa thông qua việc hoàn thiện hệ thống văn bản dưới luật, tổ chức tập huấn, hướng dẫn để bảo đảm triển khai thống nhất ngay khi các luật có hiệu lực; đồng thời sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp cũng như mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông gắn với đổi mới quản trị và tổ chức hệ thống giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả”, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn.

 

Triển khai Nghị quyết với tinh thần, quyết tâm mới và ý chí rất cao

Phóng viên: Theo Bộ trưởng, đâu là những nhiệm vụ, giải pháp cần ưu tiên triển khai trong nhiệm kỳ tới để thực hiện mục tiêu chiến lược đột phá phát triển GD-ĐT theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW cũng như thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn: Trong thời gian tới, triển khai Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 71-NQ/TW sẽ có rất nhiều việc phải làm. Ngành Giáo dục đang triển khai với một tinh thần, quyết tâm mới và ý chí rất cao. Trong đó, nhiệm vụ đặt ra trước hết và có ý nghĩa nền tảng là đổi mới tư duy, nhận thức về GD-ĐT. Việc đổi mới tư duy, nhận thức được xác định là khâu mở đầu có vai trò đặc biệt quan trọng, làm cơ sở và tiền đề để triển khai đồng bộ các nội dung đổi mới tiếp theo.

Đổi mới tư duy bao gồm việc xác lập nhận thức mới về vai trò, vị trí, trách nhiệm, sứ mệnh của GD-ĐT; nhận thức đầy đủ, thống nhất về vai trò, vị trí chủ đạo của Nhà nước; vị trí nòng cốt của hệ thống giáo dục công lập; về việc huy động, đầu tư và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho GD-ĐT. Cùng với đó là nhận thức mới về tự chủ trong giáo dục; đặc biệt, gia tăng sự lãnh đạo toàn diện của tổ chức Đảng trong cơ sở giáo dục, đặc biệt là cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Cụ thể, gia tăng vai trò định hướng của Đảng trong công tác đào tạo, nhất là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tinh thần là hệ thống cơ sở giáo dục công lập, đặc biệt các trường đại học công lập, cần tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới.

Học sinh trải nghiệm và trực tiếp tương tác với robot. Ảnh: NGỌC XOÀN
Học sinh trải nghiệm và trực tiếp tương tác với robot. Ảnh: NGỌC XOÀN

Bên cạnh đó, việc chuẩn bị và huy động các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, được xác định là nhiệm vụ quan trọng. Hiện nay, ngành Giáo dục đang tích cực triển khai Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng GD-ĐT giai đoạn 2026 - 2035. Chương trình mục tiêu quốc gia này đặt ra các mục tiêu cụ thể về trang bị, cải thiện cơ sở vật chất cho các cấp học, từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến giáo dục đại học. Trong đó trọng tâm là hiện đại hóa các cơ sở giáo dục đại học và một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trọng tâm, trọng điểm; xác định rõ các đối tượng, đơn vị thụ hưởng đầu tư. Thông qua tăng cường nguồn lực tài chính, đẩy mạnh đầu tư từ ngân sách Nhà nước, nâng cao tỷ lệ chi cho giáo dục và nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục, kỳ vọng sẽ tạo ra diện mạo mới cho hệ thống giáo dục, góp phần thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển về quy mô, chất lượng, cơ cấu và vị thế của các cơ sở giáo dục đại học trong giai đoạn tới. Bên cạnh đó, với sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện về cơ chế, chính sách, cơ sở giáo dục ngoài công lập cũng đang tích cực tham gia đào tạo trong các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật mới như công nghệ bán dẫn, năng lượng hạt nhân, giao thông, trí tuệ nhân tạo (AI) và các lĩnh vực công nghệ cao khác.

Có thể khẳng định rằng, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn tới là đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật then chốt, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại học; qua đó tạo ra các sản phẩm nghiên cứu có giá trị thực tiễn, đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới.

Theo tinh thần của Nghị quyết số 71-NQ/TW, Bộ GD&ĐT cũng đã đưa vào Kế hoạch công tác 5 năm rất nhiều nhiệm vụ. Đối với giáo dục mầm non, ngành sẽ tập trung hoàn thiện và triển khai Chương trình giáo dục mầm non mới song song, đồng bộ với việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Chương trình mới được xây dựng theo định hướng phát triển toàn diện trẻ em, chú trọng các yếu tố về thể chất, sức khỏe và kỹ năng, đáp ứng yêu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ trong giai đoạn mới.

Đối với giáo dục phổ thông, giai đoạn tới sẽ tiếp tục đẩy mạnh đổi mới theo chiều sâu, trên cơ sở kế thừa những kết quả đạt được trong quá trình triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Trong đó, một trong những trọng tâm là hoàn thiện việc trang bị kỹ năng, phát triển toàn diện người học; tổ chức đào tạo tốt hơn các môn học mới như Mĩ thuật, Giáo dục thể chất… nhằm bảo đảm mục tiêu giáo dục toàn diện. Thêm nữa, một nhiệm vụ rất quan trọng đang được ngành Giáo dục tích cực triển khai là từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Đây là nhiệm vụ nhiều thách thức, song với quyết tâm cao, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và sự vào cuộc đồng bộ của các địa phương, ngành Giáo dục tin tưởng sẽ từng bước thực hiện hiệu quả, hướng tới hoàn thành các mục tiêu đặt ra đối với giáo dục phổ thông trong thời gian tới.

Mục tiêu 5 năm tới, ngành Giáo dục cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số; xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu ngành; phát triển hệ thống học liệu mở, học liệu dùng chung. Đồng thời, xây dựng và triển khai chiến lược về trí tuệ nhân tạo (AI), ứng dụng AI trong giáo dục theo hướng có kiểm soát, an toàn và hiệu quả cũng là một yêu cầu mới, vừa mở ra nhiều cơ hội, vừa đặt ra không ít thách thức.

Học sinh THCS tham gia Ngày hội trải nghiệm sáng tạo STEM. Ảnh: PHAN HÂN
Giáo viên Trường Tiểu học An Hiệp trang bị kiến thức, kỹ năng giúp học sinh tham gia môi trường số an toàn. Ảnh: PHAN HÂN

Có thể nói, còn rất nhiều việc cần phải làm để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục. Và theo đúng như tinh thần của Nghị quyết 71-NQ/TW là hiện đại hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo công bằng trong giáo dục, song song cải thiện nâng cao chất lượng, ngành Giáo dục sẽ tiếp tục quan tâm triển khai các giải pháp bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với học sinh ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới và hải đảo.

Thời gian qua, Trung ương Đảng và Chính phủ đã dành sự quan tâm đặc biệt cho việc triển khai xây dựng 248 trường học tại các xã biên giới. Đây là nhiệm vụ đang được tổ chức thực hiện tích cực. Dự kiến trong năm 2026, 100 trường học đầu tiên sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trước thềm năm học mới; 148 trường còn lại cũng đang được triển khai và sẽ sớm hoàn thành trong thời gian tới.

Với việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất như vậy, giáo dục tại các khu vực biên giới, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số chắc chắn sẽ có những chuyển biến quan trọng, góp phần thu hẹp khoảng cách và bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục trong thời gian tới.

Phóng viên: Xin cảm ơn Bộ trưởng!

“Toàn bộ các giải pháp về thể chế, cơ chế tài chính, đổi mới phương thức quản trị và tổ chức hệ thống giáo dục, khi được triển khai đồng bộ, sẽ tạo ra những đột phá thực chất, mở ra một nhịp tăng tốc mới cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của đất nước”, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn.

HIẾU NGUYỄN (thực hiện)

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh