Ban Thường vụ Tỉnh ủy vừa ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU về phát triển kinh tế biển giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2050, xác định kinh tế biển là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng tỉnh trở thành trung tâm kinh tế biển, trung tâm sản xuất năng lượng tái tạo của vùng; gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng- an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống Nhân dân ven biển.
![]() |
| Thu hoạch tôm ở xã Thạnh Hải. |
Khai thác tiềm năng, thế mạnh
Thời gian qua, kinh tế biển được xác định là một trong những động lực trọng yếu để thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững cho vùng.
Trà Vinh và Bến Tre (cũ) đã chủ động ban hành và triển khai chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế biển giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tích hợp phát triển không gian biển gắn với khai thác tiềm năng năng lượng tái tạo (điện gió, điện năng lượng mặt trời, hydro xanh), nông nghiệp, thủy sản và công nghiệp chế biến; giao thông vận tải biển được đầu tư làm thay đổi địa kinh tế của vùng, đặc biệt là Cảng Định An, luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu.
Kết quả, kinh tế biển tăng trưởng bình quân khoảng 6,5-7%/năm, đóng góp khoảng 45-50% trong cơ cấu GRDP của tỉnh, khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế này trong tăng trưởng kinh tế- xã hội tỉnh.
Nổi bật là năng lượng tái tạo, toàn tỉnh đang vận hành thương mại tổng công suất 5,416 ngàn MW điện; trong đó, có 918MW từ năng lượng tái tạo, đạt tổng sản lượng gần 30 tỷ kWh/năm, tạo ra giá trị tương đương 24,3 ngàn tỷ đồng/năm. Đồng thời, được Trung ương quy hoạch bổ sung 2,9 ngàn MW điện gió và 150MW điện mặt trời đến năm 2030.
Hạ tầng logistics ven biển đã được chú trọng đầu tư, từng bước hình thành mạng lưới kết nối giao thương vùng- liên vùng, giảm chi phí vận chuyển và tạo thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa.
Tỉnh đang triển khai thi công xây dựng Khu bến tổng hợp Định An là cảng chính của tỉnh phục vụ tàu biển có tải trọng lớn xuất nhập khẩu trực tiếp cho vùng ĐBSCL. Ngoài ra, còn có 5 cảng cá phục vụ tàu cá trong và ngoài tỉnh cập bến để giao thương, thu mua và vận chuyển sản phẩm thủy sản, khả năng bốc dỡ hàng hóa hàng năm từ 135-140 ngàn tấn.
Vùng biển của tỉnh có nguồn lợi thủy sản phong phú; sản lượng khai thác hải sản bình quân hàng năm khoảng 300 ngàn tấn. Nuôi trồng thủy sản có tiềm năng phát triển mạnh, nhất là nuôi tôm công nghệ cao gắn với chế biến thủy sản với khoảng 63,78 ngàn ha đất nuôi trồng thủy sản; sản lượng hàng năm đạt khoảng 630 ngàn tấn (trong đó, sản lượng nuôi nước mặn, nước lợ chiếm khoảng 37%).
Du lịch biển và dịch vụ ven biển bước đầu phát triển, với các loại hình du lịch sinh thái biển, du lịch cộng đồng, văn hóa- tâm linh, truyền thống cách mạng và di tích lịch sử được quan
tâm hơn.
Với khoảng 130km bờ biển, hệ thống các cửa sông lớn cùng vùng ven biển giàu tiềm năng, tỉnh sở hữu lợi thế đặc biệt để phát triển kinh tế biển. Các lĩnh vực như thủy sản, năng lượng tái tạo, logistics, cảng biển, du lịch sinh thái và kinh tế cửa sông được kết nối trong một không gian phát triển thống nhất, tạo động lực mới cho tăng trưởng của tỉnh.
Kiến tạo hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại
Bên cạnh nhiều kết quả đáng ghi nhận, tỉnh nhận định sự phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Hạ tầng logistics thiếu đồng bộ; công nghiệp chế biến thủy sản phát triển chưa mạnh; dịch vụ cảng biển chưa trở thành đầu mối giao thương lớn của khu vực. Những hạn chế ấy chính là “điểm nghẽn” mà Nghị quyết số 15 hướng tới tháo gỡ bằng tầm nhìn phát triển dài hạn và đồng bộ.
![]() |
| Nuôi tôm công nghệ cao tại xã Thạnh Hải. |
Điểm nổi bật là xây dựng hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại; trong đó, lĩnh vực năng lượng, cảng biển, logistics, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp chế biến, đô thị ven biển và du lịch được kết nối thành chuỗi giá trị. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển của nhiều quốc gia có kinh tế biển phát triển; đồng thời tạo điều kiện để phát huy tối đa lợi thế sau hợp nhất địa giới hành chính.
Một trong những mục tiêu đáng chú ý là đến năm 2030, kinh tế biển sẽ tăng trưởng bình quân trên 10%/năm và đóng góp từ 55-60% GRDP của tỉnh. Tỉnh đặt mục tiêu đưa vào hoạt động 1 cảng biển, 1 khu bến tổng hợp, 1 trung tâm logistics có khả năng kết nối hiệu quả toàn vùng ĐBSCL.
Song hành với hạ tầng logistics là chiến lược phát triển năng lượng tái tạo. Nghị quyết đặt mục tiêu nâng tổng công suất các nguồn năng lượng lên 9 ngàn MW; trong đó, năng lượng tái tạo đạt tối thiểu 4,5 ngàn MW; chuẩn bị điều kiện triển khai các dự án điện gió ngoài khơi, phát triển hydro xanh. Từng bước xây dựng tỉnh trở thành trung tâm năng lượng sạch của khu vực, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, tạo nền tảng thu hút ngành công nghiệp xanh, công nghiệp chế biến và dịch vụ chất lượng cao.
Nghị quyết không chỉ hướng đến phát triển công nghiệp, năng lượng biển mà còn chú trọng nâng cao sinh kế người dân ven biển. Các nhiệm vụ trọng tâm gồm phát triển khai thác thủy sản xa bờ, nuôi trồng công nghệ cao, dịch vụ hậu cần nghề cá, HTX và xây dựng thương hiệu thủy sản, góp phần nâng cao thu nhập, tạo sinh kế bền vững và gia tăng sức cạnh tranh cho ngành thủy sản.
Lần đầu tiên, nghị quyết đặt vấn đề nghiên cứu phát triển khu lấn biển như một không gian phát triển mới của tỉnh. Một nội dung xuyên suốt khác của nghị quyết là phát triển kinh tế biển gắn với tăng trưởng xanh.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, điều quan trọng nhất vẫn là huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Cùng với nguồn lực đầu tư của Nhà nước, việc thu hút nhà đầu tư chiến lược, ứng dụng khoa học- công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ quyết định tốc độ hiện thực hóa mục tiêu mà nghị quyết đề ra.
Bài, ảnh: CẨM TRÚC



