Cây trâm bầu giữ đất quê hương

07:25, 07/03/2026

Trong những cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, cây trâm bầu đã góp một phần nhỏ, trên lá ngụy trang, và đã trở thành ký ức không thể phai mờ của biết bao người đi qua cuộc chiến.

Nhà tôi ở Cái Nước, Cà Mau. Những năm 1995, tôi thường cùng các bạn gần nhà đi câu cá sau những buổi học. Chỗ câu thường là bờ đìa, bờ ranh, nên cây trâm bầu hiện ra trong mắt tôi, rất đỗi bình thường. Thi thoảng, tôi nghe bài hát “Rặng trâm bầu” (Trọng Hữu và Lệ Thủy hát) từ cái la dô (radio) mà ba tôi hay mắc trên đầu võng: “Cho em hỏi rằng có ở nơi đâu, bát ngát xa trông những rặng trâm bầu…”. Rồi khi lớn lên, mỗi khi đi công tác ở các vùng quê, nhìn thấy cây trâm bầu là tôi nhớ ngay hình ảnh quê mình.

“Nằm lại ở gốc trâm bầu giữ đất quê hương”

Mấy tháng trước, tôi liên hệ gặp nhà văn Nguyễn Thái Thuận, để được nghe những câu chuyện ông kể ngày xưa ông sống ở làng rừng Cà Mau. Gặp ông lần đầu, rất vui, ông đón chúng tôi trong dáng vẻ của một ông lão tóc bạc và phong thái của một người Nam Bộ đôn hậu. Ông là cha của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả của rất nhiều truyện ngắn, tản văn đậm hồn cốt Nam Bộ! Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn đặc biệt của Cà Mau, bởi trong giới văn chương, nhắc tới Cà Mau là nhớ ngay tới Nguyễn Ngọc Tư, còn nhắc Tư là nghĩ ngay đến “Cánh đồng bất tận” chạy thẳng vào lòng.

Rồi ông ngồi trước ống kính máy quay để ê kíp chúng tôi thực hiện nội dung phim tài liệu về làng rừng Cà Mau, làng rừng Nam Bộ. Trong câu chuyện ông kể, ông có nói về cây trâm bầu, loại cây chẳng có giá trị gì về kinh tế nhưng là hình tượng rất đẹp. Từ hôm đó, có lẽ có một chút đồng cảm với một phóng viên trạc tuổi con ông, nên ông gọi điện nói chuyện với tôi. Tôi thích nghe những câu chuyện ông kể, thích đọc những bài ông viết, những trang viết mang khí chất của người từng đi qua cuộc chiến tranh khóc liệt, đón nhận chiến tranh như một phần không thể chối bỏ, trong thời trai trẻ của mình.

Ảnh minh họa: AI
Ảnh minh họa: AI

Cho tới gần đây, tôi gặp nhà văn Nguyễn Thái Thuận… làm thơ. Bài thơ “Nhật ký trên đường tiến vào Sài Gòn” đăng trên Báo Đất Mũi, có hình ảnh rặng trâm bầu thân thương. Bài thơ ông kể về đoạn dừng nghỉ chân của một cánh quân trong buổi chiều tiến về Sài Gòn ngày giải phóng.

“Chiều Củ Chi

Em mắc võng ở lùm cây

Khe khẽ hát bài Rặng trâm bầu

Quê hương em yêu dấu

Rung rinh lá ngụy trang…”

Rồi ở đoạn cuối, ông tự sự như nói với chính mình:

“Hát nữa đi em

Chúng tôi đang nghe em hát

Ngỡ như không có người nghe

Đó mới thật từ trái tim người đang hát

Bởi chốc nữa, mặt trời chui vào đất

Chúng ta lại lên đường

Biết đâu trong những người chiều nay nghe em hát…

Nằm lại ở gốc trâm bầu giữ đất quê hương”

Tôi thảng thốt. Thật tình tôi không thể hiểu được, hay cả thế hệ sinh ra trong thời bình có thể không hiểu được, thế hệ cha ông của mình đón nhận cuộc chiến với tâm thế đẹp như thế. Chưa có một dân tộc nào mà khi bom đạn giặc thù dội xuống, những buổi tiễn đưa không hẹn ngày gặp lại, vẫn ung dung viết những câu thơ mà niềm lạc quan đến phi thường như “đường ra trận mùa này đẹp lắm” (thơ Phạm Tiến Duật). Còn ở Nguyễn Thái Thuận, với “Nhật ký trên đường tiến vào Sài Gòn”, trong tim ông cũng như những người đồng đội của mình, sẵn sàng cho một lần “nằm lại gốc trâm bầu giữ đất quê hương”.

Câu thơ đẹp, đẹp đến nao lòng.

“Bờ trâm bầu cây thoáng dáng băn khoăn”

Cũng cảm thức về cây trâm bầu trong nắng gió phương Nam, tôi đọc được bài thơ “Dưới khoảng trời không tên” của nhà thơ Thanh Thảo. Bài thơ viết năm 1972, có 25 câu, nhưng chỉ có một câu nhắc tới trâm bầu, không phải là cây trâm bầu bình thường mà “cây thoáng dáng băn khoăn”.

“Nắng mơ màng trên công sự cá nhân

Trên sắc lá nghi trang nòng cối tám

Bờ trâm bầu cây thoáng dáng băn khoăn:

Tiếng nổ nào sẽ mở màng trận đánh?”

Nhà thơ Thanh Thảo kể, năm 1972, trong một lần vượt từ Đồng Tháp Mười qua Mỹ Tho, nhà thơ lần đầu nhìn thấy rặng trâm bầu, mặc dù trước đó, bài hát “Rặng trâm bầu” của nhạc sĩ Thái Cơ cũng hằn in trong tâm trí. Nhà thơ nhìn thấy những người lính đang ngụy trang để chuẩn bị cho một cuộc chống càn. Chẳng ai trên nét mặt thể hiện sự lo âu, dù biết trước sẽ bước vào một trận sinh tử. Anh lính nào cũng bình thản, ung dung, mắt nhìn lên khóm lá trâm bầu có xen vài tia nắng. Nhà thơ kể tiếp, ngay lúc đó, nhà thơ sẽ viết về những người lính, và viết về rặng trâm bầu trên khóm lá ngụy trang. Nhưng trong những trận đánh, thường có chỉ huy mới được nhắc tên, còn người lính- những người góp thân mình cho cuộc chiến, vẫn như vô danh. Nên bài thơ của nhà thơ Thanh Thảo có tên “Dưới khoảng trời không tên”, viết cho những người lính, như những rặng trâm bầu, góp phần mình làm nên huyền thoại.

Tôi đọc Nguyễn Thái Thuận với “Nhật ký trên đường tiến vào Sài Gòn”, ông viết sau 50 năm kết thúc cuộc chiến, và “Dưới khoảng trời không tên” của Thanh Thảo viết trước khi kết thúc cuộc chiến 3 năm. Khoảng cách hơn nửa thế kỷ mà như ngay sát bên nhau. Cảm giác như vừa xuyên không về miền mơ thức trong nhịp đập tâm hồn của hai nghệ sĩ. Dù sáng tác ngay trên công sự, hay sau khi chiến tranh đã khép lại rồi, cảm thức về người lính vẫn vẹn nguyên một gam màu oai hùng trong lặng lẽ, vẫn chất bi ca ngay trước sinh tử của cuộc đời.

“Bát ngát xa trông những rặng trâm bầu”

“Rặng trâm bầu” là một sáng tác bất hủ của nhạc sĩ Thái Cơ. Có một điều ít ai biết, khi viết “Rặng trâm bầu”, Thái Cơ đâu có biết cây trâm bầu nó ra làm sao. Ông tên khai sinh là Đậu Vũ Như, sinh năm 1934, quê Thái Bình, 18 tuổi nhập ngũ và hoạt động trong đội văn nghệ của Trung đoàn 55 (Quân khu 4). Năm 1956, ông là diễn viên đoàn văn công Tổng cục Chính trị. Từ năm 1961, ông là cán bộ biên tập âm nhạc của Nhà xuất bản Văn hóa (sau này là Nhà xuất bản Âm nhạc).

Nhạc sĩ Thái Cơ kể, bài hát “Rặng trâm bầu” ra đời bằng cảm xúc chân thật khi ông nghe những câu chuyện mà Bác Hồ kể về chiến sĩ miền Nam sống trong những công sự chật chội, ngay dưới gốc cây trâm bầu, để chiến đấu chống những trận càng, những trận đánh ác liệt của địch, bảo vệ xóm làng, bảo vệ người dân. Qua lời Bác kể, Thái Cơ đã cảm xúc viết ra, và bài hát được phát đi phát lại rất nhiều lần kể cả sau ngày chiến tranh kết thúc.

“Cho em hỏi rằng có ở nơi đâu

Bát ngát xa trông những rặng trâm bầu

Rặng trâm bầu như nơi quê hương em yêu dấu

Uống nước nước dòng sông cây xanh thắm một màu…”

Do là viết bằng cảm xúc, do là chưa được nhìn thấy cây trâm bầu, nên có một số chi tiết chưa chính xác, như: “uống nước nước dòng sông cây xanh thắm một màu”. Thực tế lá trâm bầu có màu xanh mốc, đâu có xanh thắm, và do xanh mốc nên nhìn từ xa, rặng trâm bầu cũng mờ nhạt xen trong những loại cây khác, đâu thể nào “bát ngát xa trông” như ca từ bài hát. Nhưng đâu có sao, bởi qua lời hát dạt dào cảm xúc đó, người ta thêm yêu quý hình ảnh người chiến sĩ chiến đấu và thậm chí “nằm lại ở gốc trâm bầu giữ đất quê hương”, như lời thơ của Nguyễn Thái Thuận. Xanh thắm đã trở thành màu sống mới của rặng trâm bầu trên đồng đất Phương Nam.

Tôi cảm nhận sự đồng điệu của ba nghệ sĩ Thái Cơ, Thanh Thảo và Nguyễn Thái Thuận, qua hình ảnh rặng trâm bầu thân thương ở Nam Bộ. Trong nắng gió phương Nam, hình ảnh rặng trâm bầu luôn gợi nhớ một thời mà con người sống chỉ với một mục tiêu cao cả “giữ đất quê hương”.

PHAN TRƯỜNG SƠN
 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh