Cùng với hoàn thiện hạ tầng, nâng chất tiêu chí, xây dựng nông thôn mới (NTM) góp phần quan trọng cải thiện đời sống và nâng thu nhập của người dân. Tại xã An Hiệp và Ba Tri, việc gắn xây dựng NTM với tạo việc làm, nâng giá trị sản xuất và giảm nghèo đang mở ra hướng phát triển kinh tế nông thôn.
![]() |
| Mô hình nuôi tôm công nghệ cao của ông Nguyễn Trung Liêm, xã Ba Tri. |
Vươn lên từ nguồn vốn hỗ trợ
Chị Lê Thị Trang, Tổ Nhân dân tự quản số 6, ấp Giồng Ao, xã An Hiệp, thoát nghèo từ việc tìm cách duy trì nguồn thu trong điều kiện kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn. Trước đây, nguồn thu của gia đình chủ yếu dựa vào chăn nuôi bò và làm thuê. Bên cạnh đó, chị còn lo cho hai con ăn học, trang trải chi phí sinh hoạt và trả các khoản nợ đã vay.
Được hỗ trợ vay 22 triệu đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, chị Trang đầu tư nuôi bò sinh sản. Thay vì chỉ trông chờ vào nguồn thu từ công việc làm thuê, gia đình có thêm tư liệu sản xuất để từng bước tạo nguồn thu. “Có nguồn thu thì gia đình dành dụm trả nợ. Nhờ được hỗ trợ vốn nuôi bò sinh sản, khi có bê con bán có thêm tiền xoay xở, cuộc sống đỡ vất vả hơn”, chị Trang chia sẻ.
Nguồn vốn hỗ trợ tạo điều kiện để gia đình chị chủ động hơn trong phát triển kinh tế. Cùng với việc duy trì chăn nuôi, chị cố gắng lo cho các con học hành, lập nghiệp. Hiện một người con đã tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin, học thêm nghiệp vụ sư phạm và làm việc trong lĩnh vực giáo dục tại TP Hồ Chí Minh, với mức thu nhập khoảng 12 triệu đồng/tháng, góp phần chia sẻ gánh nặng kinh tế với gia đình. Từ sự nỗ lực của gia đình trong lao động, dành dụm, cùng điều kiện phát triển sinh kế từ nguồn vốn hỗ trợ, đầu năm 2026, gia đình chị Trang đã thoát nghèo.
![]() |
| Ông Lê Văn Tùng, ấp Giồng Nhựt, xã An Hiệp chăm sóc đàn bò của gia đình. |
Cũng tại xã An Hiệp, gia đình ông Lê Văn Tùng, Tổ Nhân dân tự quản số 2, ấp Giồng Nhựt, được tiếp cận nguồn vốn 44 triệu đồng từ Chương trình giảm nghèo vào năm 2025 để đầu tư nuôi bò sinh sản. Từ 2 con bò ban đầu, đến nay, gia đình ông đã phát triển đàn bò lên tổng số 8 con. Ông Lê Văn Tùng cho biết: “Được chính quyền hỗ trợ vốn để nuôi bò, tôi mừng lắm. Có bò nuôi thì mình có công việc làm ở nhà. Khi bò sinh sản, có bê con thì có thêm nguồn vốn để xoay xở cuộc sống”.
Theo ông Tùng, hiệu quả kinh tế chưa cao do gia đình không có nhiều đất sản xuất, phải thuê khoảng 3 công đất trồng cỏ, với giá 2,5 triệu đồng/công/năm. Bên cạnh đó, chi phí thức ăn và chăm sóc đàn bò vẫn là khoản đáng kể; trong khi giá bò có thời điểm giảm. Ông Tùng phấn khởi vì nguồn vốn vay không tính lãi đã tạo điều kiện để gia đình phát triển sản xuất, có thêm công việc và giảm bớt áp lực vay mượn bên ngoài.
Qua trường hợp của chị Trang và ông Tùng cho thấy, vốn hỗ trợ sinh kế tạo điều kiện để người dân bắt đầu hoặc duy trì hoạt động sản xuất phù hợp với khả năng của mình. Có hộ đã thoát nghèo, có hộ vẫn đang tích lũy tài sản và tìm cách cải thiện thu nhập. Có thể thấy hỗ trợ sinh kế phải gắn với điều kiện sản xuất, khả năng lao động, chi phí đầu tư và đầu ra sản phẩm, thay vì chỉ dừng ở việc cấp vốn ban đầu.
Theo ông Phạm Minh Trí - Phó Chủ tịch UBND xã An Hiệp, nâng thu nhập, tạo việc làm là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng NTM. Xã An HIệp đã tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng nâng giá trị, đẩy mạnh liên kết chuỗi, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, chuyển đổi số, mở rộng thị trường. Đồng thời, xã đã phát triển ngành nghề nông thôn, thương mại, dịch vụ và đào tạo nghề.
Xã An Hiệp đặt mục tiêu tăng thu nhập bình quân đầu người 10,6 %/năm, gắn với hoàn thiện hạ tầng phục vụ sản xuất. Xã chú trọng phân loại hộ, xác định nguyên nhân để hỗ trợ phù hợp về sinh kế, vốn, học nghề và việc làm; đồng thời theo dõi hộ mới thoát nghèo, phòng ngừa tái nghèo.
Thực tế cho thấy, chăn nuôi bò sinh sản giúp người dân tạo việc làm, tích lũy tài sản và tăng thu nhập. Tuy nhiên, cần lựa chọn quy mô phù hợp, bảo đảm nguồn thức ăn, kỹ thuật chăm sóc, phòng dịch và đầu ra, nhất là với hộ hạn chế đất sản xuất và vốn đối ứng.
Khai thác lợi thế sản xuất, phát triển kinh tế
Tại xã Ba Tri, việc gắn giảm nghèo với phát triển kinh tế được đặt trong định hướng khai thác lợi thế nông nghiệp, nâng giá trị sản phẩm và mở rộng cơ hội việc làm. Một trong những hướng sản xuất đáng chú ý là mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao của ông Nguyễn Trung Liêm, tại ấp Giồng Chuối. Mô hình có tổng diện tích đất 12,4ha; trong đó, diện tích mặt nước nuôi và phục vụ sản xuất 6,4ha.
Hệ thống sản xuất được gia đình ông Liêm đầu tư theo hướng chuyên biệt, gồm: ao nuôi, ao xử lý nước và các khu vực phục vụ từng giai đoạn sản xuất. Quy trình nuôi áp dụng hình thức 2-3 giai đoạn trong nhà màng, nhà lưới; ao nuôi lót bạt HDPE 100% và sử dụng công nghệ tuần hoàn nước (RAS). Năng suất dự kiến đạt khoảng 120 tấn tôm/năm. Ông Liêm đầu tư công nghệ và tổ chức quy trình nuôi theo từng giai đoạn hướng đến kiểm soát môi trường, quản lý nguồn nước và nâng hiệu quả sản xuất. Đây là hướng khai thác tiềm năng thủy sản của địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa.
Ở góc độ giảm nghèo, phát triển mô hình sản xuất quy mô lớn góp phần mở rộng cơ hội việc làm, tạo nhu cầu dịch vụ và thúc đẩy liên kết kinh tế tại địa phương. Tuy nhiên, để người nghèo được hưởng lợi từ quá trình này, cần có giải pháp kết nối lao động nông thôn với việc làm, đào tạo kỹ năng phù hợp và tạo điều kiện để các hộ có khả năng tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng.
Ông Phạm Văn Dũng - Chủ tịch UBND xã Ba Tri cho biết, năm 2026, xã có 350 hộ nghèo và 327 hộ cận nghèo. Trong nhóm hộ nghèo, có 353 hộ còn khả năng lao động; trong đó, có 150 hộ có tiềm năng phát triển sinh kế, được ưu tiên hỗ trợ vốn, việc làm và phương tiện sản xuất. Xã thực hiện giảm nghèo phù hợp với điều kiện từng hộ, tập trung hỗ trợ tiếp cận vốn tín dụng, học nghề, giới thiệu việc làm, đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; khuyến khích liên kết với tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp để nâng hiệu quả sản xuất và ổn định đầu ra.
Trong năm 2026, xã Ba Tri triển khai 4 dự án sinh kế chăn nuôi bò sinh sản trong thời gian không quá 3 năm, với 88 hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo tham gia. Tổng kinh phí thực hiện hơn 2 tỷ đồng.
Theo Chủ tịch UBND xã Ba Tri, mô hình chăn nuôi bò sinh sản tương đối phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp và khả năng chăm sóc của hộ tham gia. Thông qua mô hình, người dân có thêm tư liệu sản xuất, việc làm tại chỗ và cơ hội từng bước tạo nguồn thu nhập. Thời gian tới, xã tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả từng mô hình để lựa chọn cách làm phù hợp với điều kiện đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Điểm chung trong định hướng phát triển của xã An Hiệp và xã Ba Tri là chuyển trọng tâm từ hỗ trợ khó khăn trước mắt sang tạo điều kiện để người dân có việc làm, phát triển sản xuất và nâng thu nhập. Dù vậy, sinh kế bền vững không chỉ phụ thuộc vào nguồn vốn ban đầu, mà cần sự phù hợp của mô hình, năng lực sản xuất của hộ dân và khả năng chống chịu trước những biến động của thị trường, thời tiết, dịch bệnh.
Từ những hộ gầy dựng đàn bò bằng nguồn vốn hỗ trợ đến mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, có thể thấy phát triển sinh kế, nâng thu nhập là nền tảng để giảm nghèo bền vững và xây dựng NTM. NTM thể hiện qua hạ tầng khang trang và ở sự cải thiện đời sống người dân, khả năng tạo thu nhập và giữ vững thành quả thoát nghèo.
Bài, ảnh: PHAN HÂN



