Từ các mô hình nông nghiệp thông minh, sản xuất lúa chất lượng cao giảm phát thải, đến phát triển dừa hữu cơ gắn với kinh tế tuần hoàn, có thể thấy nông nghiệp tỉnh đang chuyển dịch rõ nét. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng xanh, hiện đại, bền vững, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
![]() |
| Ruộng lúa tham gia Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” của HTX Nông nghiệp Phước Hảo, xã Hưng Mỹ được lắp đặt hệ thống giám sát khí methane. |
Cơ cấu lại ngành nông nghiệp
Những năm gần đây, tỉnh xác định ứng dụng khoa học- công nghệ và chuyển đổi số là yếu tố then chốt thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của nông sản. Những tiến bộ về giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, tự động hóa, quản lý thông minh và truy xuất nguồn gốc được triển khai ngày càng sâu rộng, góp phần giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đến nay, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao của tỉnh đạt hơn 81,4 ngàn hecta, chiếm khoảng 10,5% tổng diện tích sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc được tăng cường, tạo nền tảng cho nông sản tỉnh tiếp cận thị trường xuất khẩu có yêu cầu cao về chất lượng.
Trong lĩnh vực trồng trọt, tỉnh đã cấp gần 900 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 33,32 ngàn hecta; trong đó 696 mã số vùng trồng xuất khẩu đủ điều kiện xuất sang các thị trường như Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Hàn Quốc, New Zealand… với các mặt hàng chủ lực, như: sầu riêng, chôm chôm, nhãn, bưởi, dừa, khoai lang… Song song đó, 67 cơ sở đóng gói nông sản đạt chuẩn xuất khẩu đã được cấp mã số, góp phần nâng cao tính minh bạch và năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương.
Chuyển đổi số được triển khai đồng bộ trong lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và quản lý tài nguyên- môi trường. Nhiều vùng sản xuất đã ứng dụng cảm biến, hệ thống giám sát tự động, phần mềm quản lý đàn vật nuôi... Trong nuôi trồng thủy sản và trồng trọt, hệ thống quan trắc môi trường nước tự động giúp giảm rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất. Đặc biệt, 100% chủ thể OCOP của tỉnh đã đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử, mở rộng kênh tiêu thụ và thúc đẩy kinh tế nông nghiệp số.
Cùng với khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, tỉnh đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng xanh và tuần hoàn- một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển dài hạn. Ngành nông nghiệp tập trung hướng dẫn nông dân giảm sử dụng phân bón hóa học, thuốc BVTV; tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học; nhân rộng mô hình tưới tiết kiệm nước, sử dụng năng lượng tái tạo và canh tác carbon thấp.
Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp của tỉnh được triển khai theo hướng liên hoàn giữa trồng trọt- chăn nuôi- thủy sản, tận dụng tối đa phụ phẩm như rơm rạ, vỏ trấu, xơ dừa, mụn dừa để sản xuất phân bón hữu cơ, năng lượng sinh học hoặc nguyên liệu đầu vào cho ngành chế biến. Qua đó, vừa giảm chi phí sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường, vừa gia tăng giá trị cho từng khâu trong chuỗi sản xuất.
Đối với 2 ngành hàng chủ lực, về cây lúa, năm 2026, tỉnh có hơn 9,2 ngàn hộ tại 38 xã, phường đăng ký tham gia Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” trên tổng diện tích 8,302 ngàn hecta. Từ năm 2027, tỉnh đặt mục tiêu mỗi năm tăng thêm hơn 10 ngàn hecta; đến năm 2030, diện tích trồng lúa tham gia đề án trên địa bàn tỉnh đạt tối thiểu 50 ngàn hecta.
Với cây dừa, tỉnh phấn đấu đến năm 2030, diện tích đạt khoảng 132 ngàn hecta, sản lượng 1,72 triệu tấn/năm; trong đó, dừa hữu cơ chiếm khoảng 50% diện tích, gắn với doanh nghiệp thu mua và chế biến, tập trung phát triển ở các xã vùng ngọt và ngọt hóa của tỉnh.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường- Lê Văn Đông, ngành hàng lúa gạo, tỉnh đang hướng đến khai thác tiềm năng tín chỉ carbon từ cây dừa. Kết quả nghiên cứu của ĐH Cần Thơ cho thấy, với cây dừa trồng hơn 10 năm, 1ha dừa mỗi năm có khả năng hấp thụ được 70-75 tấn CO2. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh nghiên cứu, thí điểm mô hình kinh tế carbon, góp phần đa dạng hóa nguồn thu và nâng cao giá trị ngành hàng dừa trong tương lai.
Động lực mới để phát triển
Phó Chủ tịch UBND tỉnh- Châu Văn Hòa khẳng định, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn gắn với khoa học- công nghệ và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Đây là định hướng phát triển của ngành nông nghiệp, là một trong những trụ cột quan trọng để tỉnh thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững theo nghị quyết của Trung ương.
Tỉnh tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp, HTX và nông dân tham gia ứng dụng khoa học- công nghệ, chuyển đổi số và mô hình sản xuất thân thiện môi trường; triển khai Đề án chuyển đổi số ngành nông nghiệp và môi trường đến năm 2030, định hướng đến năm 2050.
Mục tiêu đến năm 2030, 15-20% diện tích sản xuất nông nghiệp của tỉnh được ứng dụng công nghệ cao và công nghệ số; hình thành vùng sản xuất thông minh, có khả năng kết nối dữ liệu và truy xuất nguồn gốc xuyên suốt chuỗi giá trị.
Thời gian tới, tỉnh tập trung phát triển vùng sản xuất hàng hóa lớn, chất lượng cao đối với cây trồng, vật nuôi chủ lực như lúa, dừa; đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín. Qua đó, từng bước chuyển từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang phát triển kinh tế nông nghiệp đa ngành, tích hợp giữa sản xuất- chế biến- thương mại- dịch vụ- du lịch nông thôn.
Tỉnh xác định thúc đẩy động lực tăng trưởng mới, nhất là nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học- công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế chia sẻ là nhiệm vụ xuyên suốt trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Trong 5 năm qua, đã triển khai hơn 50 đề tài, dự án khoa học- công nghệ, tổ chức đào tạo, tập huấn và tư vấn kỹ thuật cho hàng chục ngàn lượt nông dân, xây dựng và nhân rộng hơn 200 mô hình canh tác thông minh, nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ và theo tiêu chuẩn GAP.
Mô hình kinh tế chia sẻ trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đã từng bước hình thành thông qua việc dùng chung máy móc, thiết bị, hạ tầng sản xuất; chia sẻ dữ liệu canh tác, logistics và nền tảng tiêu thụ, giúp giảm chi phí đầu tư, nâng hiệu quả liên kết và tăng khả năng tiếp cận thị trường cho nông dân, HTX. Tiếp tục quán triệt sâu sắc tinh thần nghị quyết của Trung ương về “tam nông”, tỉnh kiên định lấy khoa học- công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn làm trụ cột cơ cấu lại ngành nông nghiệp.
Từ lợi thế ngành hàng chủ lực như lúa gạo và dừa, địa phương từng bước phát triển thêm ngành hàng chủ lực khác và hình thành các chuỗi giá trị xanh, giảm phát thải, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.
Nghị quyết số 57-NQ/TW mở ra dư địa và động lực mới để nông nghiệp tỉnh chuyển mình theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc hiện thực hóa nghị quyết bằng những mô hình cụ thể, hiệu quả kinh tế cao là “đòn bẩy” để tỉnh xây dựng và phát triển bền vững nền kinh tế nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế.
Bài, ảnh: THANH NGHI




