Ngành nuôi tôm hướng đến phát triển bền vững

12:27, 08/05/2026

Những năm gần đây, ngành nuôi tôm Việt Nam đã ghi nhận nhiều bước tiến tích cực, góp phần quan trọng vào giá trị xuất khẩu thủy sản và tạo sinh kế cho hàng triệu lao động. Tuy nhiên, cùng với tăng trưởng thì thách thức ngày càng gia tăng. Điều này đặt ra yêu cầu cần có giải pháp đồng bộ, toàn diện nhằm hướng tới sự phát triển bền vững cho ngành tôm.

Ngành tôm đang đối mặt nhiều thách thức.
Ngành tôm đang đối mặt nhiều thách thức.

Nuôi tôm ngày càng khó

Là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản, song, ngành tôm đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, áp lực cạnh tranh ngày càng lớn.

Có 15 năm kinh nghiệm nuôi tôm, anh Tạ Văn Hùng- chủ trang trại nuôi tôm Hùng (xã Vĩnh Hải, TP Cần Thơ) cho biết: “Tôi có 15ha nuôi tôm, trong đó 80% xuất khẩu. Nghề nuôi tôm đang gặp nhiều khó khăn, nhất là dịch bệnh như: vi bào tử trùng (EHP), đốm trắng và đỏ thân. Đây là những tác nhân chính gây ra tình trạng thua lỗ nặng cho người nuôi tôm thời gian qua”.

Ở góc độ doanh nghiệp nuôi tôm, ông Trịnh Trung Phi- Phó Tổng Giám đốc kỹ thuật và tôm thương phẩm (Tập đoàn Việt Úc) cho hay, nuôi tôm ngày càng khó. Thay vì trở thành chuyên gia xử lý khi bệnh đã xảy ra, người nuôi cần quản trị rủi ro ngay từ khâu đầu tiên. Thực hiện đúng quy trình ngay từ đầu, từ khâu chọn tôm bố mẹ, con giống cho đến việc thiết lập hệ thống an toàn sinh học và khả năng phát hiện bệnh sớm. Nguồn nước nuôi tôm hiện nay không còn được như trước, mầm bệnh luôn hiện hữu và vi khuẩn có thể tái xuất hiện chỉ sau vài ngày, ngay cả khi đã xử lý clo kỹ lưỡng.

Ông Trần Trường Giang- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long cho biết: Tỉnh có diện tích nuôi thủy sản khá lớn với 68 ngàn hecta, sản lượng trên 300 ngàn tấn/năm. Do vậy, giá trị tạo ra của ngành thủy sản và đóng góp trong cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh khá lớn, chiếm khoảng 35%. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều thách thức đặt ra đối với ngành thủy sản, đó là dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.

Đánh giá về những thách thức ngành hàng tôm đang phải đối mặt, GS.TS Vũ Ngọc Út- Hiệu trưởng Trường Thủy sản thuộc ĐH Cần Thơ nhận định: Chúng ta đang chứng kiến sự gia tăng về tần suất và mức độ nghiêm trọng của bệnh trên tôm nuôi như hoại tử gan tụy cấp, đốm trắng, đặc biệt là bệnh do vi bào tử trùng EHP gây thiệt hại lớn về kinh tế, làm suy giảm hiệu quả sản xuất một cách âm thầm, kéo dài.

Điều đáng lưu ý là nhiều tác nhân gây bệnh hiện nay liên quan chặt chẽ đến điều kiện môi trường, sức khỏe nền của tôm và phương thức quản lý ao nuôi. Biến động môi trường, đặc biệt dưới tác động của biến đổi khí hậu, đã làm thay đổi nhiệt độ, độ mặn, pH và chất lượng nước, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển và làm suy giảm sức đề kháng tự nhiên của tôm. Ở nhiều khu vực, mô hình nuôi thâm canh với mật độ cao nhưng thiếu kiểm soát tốt về môi trường đã làm gia tăng rủi ro dịch bệnh.

Chất lượng con giống vẫn là một “nút thắt” quan trọng. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chọn giống và kiểm soát dịch bệnh, nhưng trên thực tế, sự không đồng đều về chất lượng, nguy cơ mang mầm bệnh tiềm ẩn và thiếu truy xuất nguồn gốc rõ ràng vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến thành công của vụ nuôi. Việc lạm dụng hóa chất và kháng sinh gây ra những hệ lụy lâu dài như kháng thuốc, ô nhiễm môi trường và rào cản thương mại đối với sản phẩm tôm xuất khẩu.

Giải pháp phát triển bền vững ngành tôm

Theo các chuyên gia, cách tiếp cận trong nuôi tôm hiện nay cần có sự chuyển đổi rõ rệt: từ “xử lý bệnh” sang “quản lý sức khỏe tổng thể”; từ “phản ứng bị động” sang “phòng ngừa chủ động”; từ “tăng trưởng bằng mọi giá” sang “phát triển bền vững dựa trên cân bằng sinh thái”. Cần quan tâm sử dụng nguồn con giống chất lượng và bảo đảm sạch bệnh gắn với phát triển mô hình nuôi phù hợp từng vùng. Đồng thời, chú ý ứng dụng chế phẩm sinh học và giải pháp dinh dưỡng để tăng cường sức khỏe tôm nuôi.

Người nuôi tôm cần quan tâm sử dụng nguồn con giống chất lượng và bảo đảm sạch bệnh gắn với phát triển mô hình nuôi phù hợp từng vùng.
Người nuôi tôm cần quan tâm sử dụng nguồn con giống chất lượng và bảo đảm sạch bệnh gắn với phát triển mô hình nuôi phù hợp từng vùng.

Theo ông Trịnh Trung Phi, vai trò của con giống được ví như “nền móng của ngôi nhà”, quyết định đến 40% sự thành bại của vụ nuôi dù chi phí đầu tư chưa tới 10% tổng ngân sách. Con giống chất lượng, sạch bệnh và có khả năng truy xuất nguồn gốc giúp tôm tăng trưởng nhanh, đạt đầu con và giảm thiểu rủi ro từ dịch bệnh nguy hiểm như TPD (bệnh tôm mờ đục) hay EHP (vi bào tử trùng).

Hiện nay, với nguồn giống tốt, tôm có thể đạt kích cỡ 60 con/kg chỉ sau 60 ngày nuôi, với tỷ lệ sống trên 80% và hệ số thức ăn tối ưu ở mức 1.2-1.3. Việc rút ngắn thời gian nuôi chính là chìa khóa để giảm giá thành và nâng cao vị thế cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam.

“Thay vì sử dụng Chlorine truyền thống, sử dụng công nghệ kết hợp hóa học đã được ứng dụng để xử lý nước, giúp nâng cao khả năng sát trùng, loại bỏ chất hữu cơ, kim loại nặng và giúp giảm chi phí xử lý nước từ mức 3-4 ngàn đồng/m³ xuống chỉ còn 800-900 đồng/m³. Một trong những chiến lược đột phá mà doanh nghiệp thực hiện là chủ động giảm mật độ nuôi từ mức siêu thâm canh (300-400 con/m2) xuống còn 200-250 con/m2 để đạt được sự ổn định tối ưu”- ông Trịnh Trung Phi nhấn mạnh.

Cùng với con giống, vấn đề dinh dưỡng và an toàn sinh học cũng được chú trọng. Theo TS Lê Thị Hải Yến- Phó Giám đốc Trung tâm R&D (Công ty Vemedim), trong nuôi tôm an toàn sinh học, việc sử dụng chế phẩm sinh học đóng vai trò then chốt nhằm thay thế kháng sinh và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi. Nhóm vi sinh phổ biến hiện nay bao gồm nhóm vi khuẩn tạo bào tử như Bacillus với ưu điểm bền nhiệt, hoạt động tốt trong môi trường khắc nghiệt để ức chế vi khuẩn có hại.

Để phát triển bền vững nghề nuôi tôm, GS.TS Trương Quốc Phú- Trường Thủy sản thuộc ĐH Cần Thơ cho rằng: Phương pháp phòng bệnh tổng hợp dựa trên 4 khâu then chốt: nước sạch, giống tốt, dinh dưỡng đầy đủ và chăm sóc quản lý khoa học; đồng thời, nhấn mạnh việc thay đổi tư duy quản lý nước thải. Thay vì xả thải trực tiếp gây lây lan mầm bệnh ra sông rạch, người nuôi cần ứng dụng biện pháp xử lý sinh học để tái sử dụng nước hoặc bảo đảm an toàn trước khi thải bỏ. Việc sử dụng thực vật thủy sinh và nhóm vi khuẩn có lợi để phân hủy chất thải được xem là giải pháp thân thiện, hiệu quả và tiết kiệm nhất.

Trước những thách thức ngày càng gia tăng, ngành tôm Việt Nam cần chuyển mình mạnh mẽ về tư duy và phương thức sản xuất. Việc đồng bộ giải pháp từ con giống, môi trường, dinh dưỡng đến quản lý dịch bệnh, cùng với ứng dụng khoa học- công nghệ và mô hình nuôi an toàn sinh học, là nền tảng quan trọng để giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả. Khi người nuôi, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng chung tay thay đổi theo hướng chủ động, bền vững và thích ứng, ngành tôm Việt Nam hoàn toàn có cơ hội giữ vững vị thế và phát triển ổn định.

Bài, ảnh: TRÀ MY
 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh