Qua 1 năm 7 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Trường ĐH Cửu Long đã từng bước đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào quản trị, đào tạo, nghiên cứu khoa học.
Những kết quả ban đầu cho thấy sự chuyển dịch từ nghiên cứu dựa trên năng lực sẵn có sang giải quyết bài toán thực tiễn, bên cạnh đặt ra yêu cầu tiếp tục rút ngắn khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm được ứng dụng và thương mại hóa.
![]() |
| Sinh viên Trường ĐH Cửu Long học tập tại phòng máy tính, tiếp cận môi trường đào tạo và học liệu số. Ảnh: CAO HUYỀN |
Chuyển đổi từ quản trị đến đào tạo
Sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW được ban hành, Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường ĐH Cửu Long tổ chức quán triệt đến toàn thể cán bộ, giảng viên, nhân viên và sinh viên. Nhà trường ban hành Kế hoạch số 472/KH-ĐHCL, ngày 27/2/2025 về thực hiện nghị quyết; thành lập BCĐ theo Quyết định số 473/QĐ-ĐHCL cùng ngày, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Qua đó, chuyển đổi số từng bước đi vào hoạt động quản trị, giảng dạy, học tập và nghiên cứu. PGS.TS Lương Minh Cừ- Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long, cho biết: “Năm 2026, trường dành trên 6,3 tỷ đồng đầu tư, duy trì và nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, nền tảng số và phần mềm. Toàn bộ đơn vị trực thuộc được kết nối bằng mạng cáp quang tốc độ cao; phòng làm việc, giảng đường, phòng thực hành, phòng họp và thư viện được phủ sóng wifi”.
Trường hiện vận hành đồng bộ 7 hệ thống phần mềm quản lý trọng tâm trên nền tảng UIS, phục vụ quản lý đào tạo và sinh viên, nhân sự, tài sản, tiền lương, khoa học, khảo sát trực tuyến và hỗ trợ điều hành. Việc đưa các hoạt động lên nền tảng thống nhất giúp chuẩn hóa quy trình, giảm xử lý hồ sơ thủ công, tăng khả năng chia sẻ dữ liệu và hỗ trợ công tác quản lý theo thời gian thực.
Công cụ trí tuệ nhân tạo cũng từng bước được sử dụng trong xử lý văn bản, tổng hợp thông tin, phân tích dữ liệu quản lý, xây dựng báo cáo và thiết kế học liệu số. Nhà trường đang nghiên cứu tích hợp AI vào hệ thống quản lý để theo dõi kết quả học tập, phân tích xu hướng tuyển sinh và hỗ trợ ra quyết định.
Trong đào tạo, hệ thống Moodle E-Learning thường xuyên phục vụ hơn 20 ngàn tài khoản giảng viên và người học. Thư viện số hiện cung cấp hơn 42 ngàn đầu sách, 700 tài liệu nội sinh và trên 1,4 triệu tài liệu điện tử liên kết, giúp người học tiếp cận học liệu không phụ thuộc vào không gian, thời gian.
Nội dung về trí tuệ nhân tạo đã được tích hợp vào học phần Tin học ứng dụng dành cho sinh viên toàn trường. Người học được tiếp cận kiến thức nền tảng về AI, AI tạo sinh, khai thác dữ liệu, kỹ thuật xây dựng câu lệnh và những nguyên tắc sử dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm. Hàng năm, trên 4 ngàn sinh viên được tiếp cận nội dung liên quan đến AI qua học phần chính khóa và chuyên đề kỹ năng số. Trường cũng mở ngành Trí tuệ nhân tạo, Kinh tế số và cập nhật nhiều chương trình đào tạo theo hướng tăng cường kiến thức về dữ liệu số, học máy, khoa học dữ liệu, internet vạn vật và điện toán đám mây.
![]() |
| Sinh viên khối Khoa học sức khỏe, Trường ĐH Cửu Long thực hành trong phòng thí nghiệm, gắn kiến thức chuyên môn với kỹ năng nghề nghiệp. Ảnh: CAO HUYỀN |
Sự thay đổi này còn diễn ra ở khối ngành khoa học kỹ thuật. Theo TS Nguyễn Hoa Bằng- Trưởng Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, từ quan niệm chuyển đổi số chủ yếu là công việc của lĩnh vực công nghệ, đội ngũ giảng viên đã dần nhận thức đầy đủ hơn về yêu cầu đổi mới tư duy, phương pháp đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng.
Các ngành khoa học xã hội và nhân văn có thể tham gia quá trình này thông qua nghiên cứu con người trong môi trường số, văn hóa số, truyền thông số và những vấn đề đạo đức, pháp lý, tâm lý phát sinh khi AI ngày càng được sử dụng rộng rãi. TS Nguyễn Hoa Bằng cho rằng: “Chuyển đổi số không nên được hiểu đơn giản là “dùng nhiều công nghệ hơn”, mà phải hướng đến sử dụng công nghệ có tri thức, có trách nhiệm và có đạo đức”.
![]() |
| Sinh viên Khoa Nông nghiệp- Thủy sản thực hành nghiên cứu mẫu thủy sản, góp phần nâng cao năng lực ứng dụng khoa học, công nghệ vào thực tiễn. Ảnh: NGUYỄN DÔ |
Nghiên cứu hướng về những bài toán thực tiễn
Cùng với đầu tư hạ tầng số, Trường ĐH Cửu Long dành hơn 4 tỷ đồng mỗi năm cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Hiện tại, trường đang chủ trì thực hiện 1 đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ, 3 đề tài cấp tỉnh thuộc những lĩnh vực ưu tiên như công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số trong y tế cộng đồng.
![]() |
| Sinh viên Trường ĐH Cửu Long tìm hiểu mô hình sản xuất cây giống, gắn hoạt động đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu thực tế của nông nghiệp. Ảnh: NGUYỄN DÔ |
Trường đã triển khai 271 đề tài khoa học và công nghệ cấp cơ sở, gồm 156 đề tài của cán bộ, giảng viên và 115 đề tài của sinh viên; cùng với đó là 73 đề tài cấp khoa. Hoạt động biên soạn giáo trình, bài giảng, sách chuyên khảo cũng được đẩy mạnh, với hơn 325 sản phẩm phục vụ giảng dạy và nghiên cứu. Đội ngũ giảng viên, nhà khoa học của trường đã công bố hơn 53 bài báo trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục WoS, Scopus và hơn 217 bài báo trên tạp chí trong nước.
Các nghiên cứu từng bước hướng đến giải quyết những vấn đề gắn với điều kiện kinh tế- xã hội của tỉnh và ĐBSCL. Trong nông nghiệp, nhà trường chú trọng hướng nghiên cứu về thích ứng biến đổi khí hậu, nông nghiệp xanh, tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và tận dụng phụ phẩm. Một số đề tài tiếp cận việc tạo ra vật liệu, quy trình và sản phẩm mới từ nguyên liệu địa phương, thay vì chỉ dừng ở đánh giá biện pháp sản xuất truyền thống.
![]() |
| Đại biểu chụp ảnh lưu niệm trong Chương trình đối thoại chính sách khởi nghiệp cho sinh viên, do Trường ĐH Cửu Long tổ chức. Ảnh: NGUYỄN DÔ |
PGS.TS Nguyễn Kim Quyên- Trưởng Khoa Nông nghiệp- Thủy sản, cho rằng: “Hoạt động nghiên cứu phải tiến gần hơn đến nhu cầu của địa phương, doanh nghiệp, HTX và người sản xuất. Đề tài cần xác định rõ vấn đề phải giải quyết, sản phẩm đầu ra, nơi tiếp nhận và khả năng nhân rộng”. Theo đó, mục tiêu không dừng ở việc tạo ra một đề tài có kết quả, mà phải hướng đến kết quả có khả năng hình thành sản phẩm, tạo giá trị kinh tế và tác động xã hội.
Định hướng này được thể hiện qua nghiên cứu về nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, tận dụng sinh khối và phụ phẩm nông nghiệp; phát triển vật liệu bảo quản nông sản; cải thiện đất bằng than sinh học và phân hữu cơ; phòng, trị bệnh trên cây trồng. Sinh viên được tham gia quá trình phát hiện vấn đề, thiết kế thí nghiệm, xử lý dữ liệu và đề xuất giải pháp kỹ thuật, qua đó gắn hoạt động nghiên cứu với đào tạo nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận, ứng dụng công nghệ.
Tại Khoa Kỹ thuật- Công nghệ, sản phẩm như máy sấy lạnh phục vụ chế biến nông sản, thiết bị ép đùn bã mía thành viên than củi, máy băm xơ dừa, máy ép đĩa mo cau, máy lột vỏ hạt sen, lò đốt dầu thải và những giải pháp ứng dụng thị giác máy, AI vào phân loại sản phẩm cho thấy khả năng tiếp cận những vấn đề cụ thể của sản xuất.
TS Đào Ngọc Điệp- Trưởng Khoa Kỹ thuật- Công nghệ, cho rằng: “Cần chuyển từ tư duy một đề tài tạo ra một sản phẩm sang tổ chức nhóm nghiên cứu liên ngành để giải quyết trọn vẹn một bài toán. Một hệ thống chế biến nông sản có thể cần sự phối hợp giữa cơ khí, điện- điện tử, điều khiển tự động, công nghệ nhiệt, IoT, xử lý dữ liệu, thị giác máy và AI”.
Từ yêu cầu sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, chế biến và bảo quản khoai lang đến tận dụng phụ phẩm dừa, địa phương có thể xác định những công đoạn còn sử dụng nhiều lao động, gây tổn thất lớn hoặc thiếu công nghệ phù hợp. Trên cơ sở đó, trường ĐH tổ chức nghiên cứu giải pháp; doanh nghiệp, HTX cung cấp dữ liệu, quy trình và địa điểm thử nghiệm; địa phương hỗ trợ kết nối và tạo điều kiện triển khai.
“Doanh nghiệp không chỉ là “người mua công nghệ”, mà còn trở thành “người cùng tạo ra công nghệ’”, TS Đào Ngọc Điệp nhấn mạnh. Sự tham gia từ đầu của doanh nghiệp sẽ giúp sản phẩm nghiên cứu đáp ứng yêu cầu về năng suất, độ bền, an toàn, chi phí vận hành và khả năng mở rộng sản xuất.
Rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường
Để tạo đầu ra cho hoạt động nghiên cứu, Trường ĐH Cửu Long đã mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, tập đoàn, HTX và cơ quan quản lý. Trường ký kết với Sở KH-CN trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và nhân lực số, chuyển đổi số, tư vấn và phản biện chính sách.
Bên cạnh, nhà trường cũng ký mới và tái ký hợp tác với 33 doanh nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước, tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ thực phẩm, y tế, dịch vụ và du lịch. Trên 75% biên bản ghi nhớ đã được cụ thể hóa thành kế hoạch hoạt động.
Tuy nhiên, Trường ĐH Cửu Long cũng thẳng thắn nhìn nhận số lượng sản phẩm nghiên cứu được chuyển giao hoặc thương mại hóa ở quy mô công nghiệp còn khiêm tốn. Việc kết nối giữa kết quả trong phòng thí nghiệm với nhu cầu của doanh nghiệp chưa hình thành được chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Trường chưa có doanh nghiệp khoa học và công nghệ hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hình thành ngay trong nhà trường.
Hoạt động hợp tác với doanh nghiệp ở một số lĩnh vực vẫn dừng ở từng vụ việc, chưa hình thành nhiều liên minh nghiên cứu dài hạn hoặc hợp đồng đặt hàng quy mô lớn. Cơ chế chia sẻ rủi ro, lợi ích tài chính và quyền sở hữu trí tuệ chưa đủ linh hoạt để thu hút mạnh nguồn vốn nghiên cứu và phát triển từ doanh nghiệp.
Mặt khác, mức độ sẵn sàng chuyển đổi số giữa các đơn vị, cán bộ và giảng viên chưa đồng đều. Một bộ phận nhân sự vẫn duy trì phương thức làm việc truyền thống hoặc chưa khai thác hết khả năng của nền tảng số và công cụ AI. Trường cũng còn thiếu những chuyên gia đầu ngành có khả năng dẫn dắt hướng nghiên cứu thuộc lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, AI chuyên sâu và công nghệ sinh học thế hệ mới.
![]() |
| Đội sinh viên Trường ĐH Cửu Long xuất sắc đoạt giải Nhất Cuộc thi Robotics tỉnh lần thứ I, năm 2026 với chủ đề “Tuổi trẻ Vĩnh Long vững bước tiến vào kỷ nguyên mới”. Ảnh: NGUYỄN DÔ |
PGS.TS Lương Minh Cừ- Hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long, cho rằng hoạt động chuyển giao công nghệ chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng do sự kết nối và hài hòa lợi ích giữa nhà trường với doanh nghiệp chưa thật sự bền vững. Nhà trường kiến nghị hoàn thiện cơ chế tài chính, hợp tác công- tư và phân chia lợi ích khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đồng thời tạo điều kiện để trường ĐH ngoài công lập được tiếp cận bình đẳng các nguồn kinh phí, quỹ khoa học và công nghệ.
Trong giai đoạn tới, trường xác định liên kết Nhà nước- Nhà trường- Nhà doanh nghiệp là giải pháp trọng tâm, “trong đó doanh nghiệp đóng vai trò là chủ thể đặt hàng và thụ hưởng”. Nhà trường định hướng thành lập các trung tâm nghiên cứu ứng dụng chung với doanh nghiệp; mời chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy, đánh giá sinh viên; áp dụng cơ chế khoán sản phẩm cho nhóm nghiên cứu mạnh và ưu tiên đề tài có địa chỉ ứng dụng rõ ràng, có doanh nghiệp đối ứng nguồn lực.
Đến năm 2030, trường đặt mục tiêu số hóa toàn bộ quy trình chuyên môn, quản trị sinh viên, kiểm định chất lượng và hoạt động giảng dạy; ứng dụng AI, dữ liệu lớn và trợ lý ảo để hỗ trợ người học, giảng viên. Số bài báo đăng trên tạp chí thuộc danh mục Scopus, WoS được định hướng tăng từ 5-10% mỗi năm; trường phấn đấu hỗ trợ đăng ký thành công từ 3-5 bằng bảo hộ giải pháp hữu ích hoặc bằng sáng chế mỗi năm và thúc đẩy thành lập ít nhất 1 doanh nghiệp khoa học và công nghệ trực thuộc.
![]() |
| PGS.TS Lương Minh Cừ- Hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long trao khen thưởng cán bộ, giảng viên nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đạt giải thưởng tại các cuộc thi. Ảnh: CAO HUYỀN |
Kết quả thực hiện Nghị quyết số 57 tại Trường ĐH Cửu Long đã tạo nền tảng để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thâm nhập sâu hơn vào quản trị, đào tạo và nghiên cứu. Chặng đường tiếp theo đòi hỏi nhà trường chuyển mạnh từ số lượng đề tài sang hiệu quả ứng dụng, từ từng sản phẩm riêng lẻ sang giải pháp liên ngành và từ hợp tác theo vụ việc sang quan hệ đặt hàng dài hạn. Khi bài toán thực tiễn trở thành điểm khởi đầu và hiệu quả kinh tế- xã hội trở thành thước đo, tri thức từ giảng đường mới có thể đi xa hơn trong đời sống và sản xuất.
CAO HUYỀN








