Doanh nghiệp có trách nhiệm chủ động thực thi quyền sở hữu trí tuệ

19:13, 25/05/2026

Công điện 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Không ít người vẫn cho rằng thực thi quyền sở hữu trí tuệ chỉ là nhiệm vụ của cơ quan chức năng, trong khi thực tế đây còn là trách nhiệm chủ động của mỗi doanh nghiệp trong việc bảo vệ thương hiệu, sản phẩm và tài sản trí tuệ của mình.

Người dân dán mã QR truy xuất nguồn gốc lên quả bưởi để minh bạch thông tin, góp phần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nông sản địa phương.
Người dân dán mã QR truy xuất nguồn gốc lên quả bưởi để minh bạch thông tin, góp phần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nông sản địa phương.

Cụ thể, khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi tại điểm a khoản 1 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 quy định quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các đối tượng quyền tác giả và quyền liên quan quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

Theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Sở hữu trí tuệ 2022 và Luật Sở hữu trí tuệ 2025, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình.

Trong đó, chủ thể quyền có quyền áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, gỡ bỏ nội dung vi phạm trên không gian mạng, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại; đồng thời có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý hoặc khởi kiện tại Tòa án, Trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Bên cạnh quyền tự bảo vệ, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể khác. Điều 9 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định tổ chức, cá nhân có quyền áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình và có trách nhiệm tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật có liên quan.

Đồng thời, Khoản 2 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi tại Khoản 3 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2025 quy định việc khai thác, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp không được lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhằm gây thiệt hại cho chủ thể khác.

Ngoài ra, Khoản 4 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Luật năm 2025 còn quy định trường hợp một đối tượng có nhiều quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập thì quyền phát sinh sau hoặc được xác lập sau có thể bị buộc chấm dứt thực hiện nếu mâu thuẫn với việc khai thác bình thường của quyền đã phát sinh hoặc được xác lập trước. Việc chấm dứt thực hiện quyền trong trường hợp này do Tòa án quyết định.

Đáng chú ý, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã bổ sung nhiều quy định mới liên quan trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Cụ thể, Khoản 5 Điều 7 được bổ sung tại Khoản 3 Điều 1 cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố hợp pháp để phục vụ nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo với điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.

Cùng với đó, Điều 11b được bổ sung tại khoản 6 Điều 1 quy định Nhà nước thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua việc phát triển hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của hoạt động sở hữu trí tuệ.

Về trách nhiệm quản lý Nhà nước, Điều 11 Luật Sở hữu trí tuệ quy định Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ. Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lý Nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý Nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan; Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện quản lý Nhà nước về quyền đối với giống cây trồng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Ngoài ra, Điều 10 Luật Sở hữu trí tuệ quy định nội dung quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ bao gồm xây dựng chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật về sở hữu trí tuệ; cấp văn bằng bảo hộ; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ; tổ chức hoạt động thông tin, thống kê, giám định và hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ.

Qua các quy định trên có thể thấy, thực thi quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý Nhà nước mà còn là trách nhiệm chủ động của doanh nghiệp trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ của mình, đồng thời tuân thủ và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác theo đúng quy định của pháp luật.

(Bài viết có sự phối hợp cung cấp dữ liệu và thông tin pháp lý từ LuatVietnam.vn)

Theo Hà Linh/nhandan.vn 

 

 

 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh