Phân cấp theo năng lực là yếu tố then chốt để chương trình mục tiêu quốc gia phát huy hiệu quả

18:10, 20/08/2026

Thảo luận về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa- xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Thạch Phước Bình - Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long cơ bản thống nhất với chủ trương hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia. Đồng thời, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị quyết theo hướng phân cấp phải gắn với năng lực thực thi; hỗ trợ kỹ thuật phải gắn với chuyển giao năng lực; việc đánh giá kết quả và điều chỉnh nguồn lực phải bảo đảm hiệu quả thực chất, quyền lợi của người dân và các mục tiêu đã được Quốc hội quyết định.

Sáng 20/8/2026, Quốc hội thảo luận tại hội trường về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa- xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến điều hành phiên thảo luận.

Đại biểu Thạch Phước Bình, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long thảo luận sáng ngày 20/8/2026 (Ảnh: media.quochoi.vn)
Đại biểu Thạch Phước Bình, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long thảo luận sáng ngày 20/8/2026 (Ảnh: media.quochoi.vn)

Phát biểu tại phiên họp, ĐBQH Thạch Phước Bình - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long, cơ bản thống nhất với chủ trương hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa- xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, với tổng nguồn lực khoảng 808 ngàn tỷ đồng. Để góp phần hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, đại biểu tập trung phân tích và kiến nghị ba nhóm vấn đề trọng tâm.

Hình thành nguyên tắc xuyên suốt “phân cấp theo năng lực”

Vấn đề thứ nhất được đại biểu Thạch Phước Bình đề cập là nguyên tắc phân bổ ngân sách nhà nước và phân cấp tổ chức thực hiện chương trình. Theo đại biểu, điểm đ, khoản 6, Điều 1 dự thảo nghị quyết quy định việc phân bổ ngân sách hàng năm căn cứ vào kết quả thực hiện mục tiêu, giải ngân, tiến độ, mức độ sẵn sàng; đồng thời có cơ chế hỗ trợ chuẩn bị đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật đối với các địa phương còn hạn chế về năng lực giải ngân, chuẩn bị dự án. Đây là quy định đúng hướng. Cùng với đó, khoản 3, Điều 4 dự thảo nghị quyết quy định việc phân cấp cho cấp xã phải phù hợp với năng lực và điều kiện thực tiễn.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng hai quy định này cần được liên kết chặt chẽ hơn để hình thành một nguyên tắc xuyên suốt trong tổ chức thực hiện chương trình, đó là “phân cấp theo năng lực”. Trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã sẽ trực tiếp thực hiện nhiều nhiệm vụ hơn, trong khi năng lực tổ chức thực hiện giữa các địa bàn còn rất khác nhau. Nếu thực hiện phân cấp đồng loạt mà không đánh giá đầy đủ khả năng thực hiện, có thể dẫn đến tình trạng nhiệm vụ đã được giao nhưng triển khai chậm, cán bộ e ngại trách nhiệm, hoặc địa phương có xu hướng lựa chọn những nội dung dễ thực hiện, dễ giải ngân.

Từ phân tích đó, đại biểu đề nghị điều chỉnh điểm đ, khoản 6, Điều 1 dự thảo nghị quyết theo hướng: “Việc phân bổ nguồn lực và phân cấp tổ chức thực hiện phải căn cứ mức độ sẵn sàng, năng lực thực thi và điều kiện thực tế của địa phương; đồng thời có cơ chế hỗ trợ kỹ thuật phù hợp đối với địa bàn còn hạn chế về năng lực, nhất là xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.

Đồng thời, tại khoản 3, Điều 4, đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu “định kỳ đánh giá năng lực thực thi của cấp xã” để làm căn cứ xác định phạm vi phân cấp và mức độ hỗ trợ phù hợp. Theo đại biểu Thạch Phước Bình, phân cấp chỉ thực sự hiệu quả khi quyền hạn, trách nhiệm được giao tương xứng với năng lực và các điều kiện bảo đảm thực hiện. Đây cũng là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng khi khối lượng nhiệm vụ được chuyển xuống cấp cơ sở ngày càng lớn trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Làm rõ cơ chế hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao năng lực

Vấn đề thứ hai, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện khoản 9 và khoản 10, Điều 1 của dự thảo nghị quyết, trong đó cần quy định rõ hơn cơ chế hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao năng lực. Theo khoản 9, Điều 1, dự thảo nghị quyết quy định giải pháp thực hiện chương trình theo hướng quản trị kết quả đầu ra, trao quyền chủ động cho địa phương và đề cao trách nhiệm giải trình. Trong khi đó, tại điểm a, khoản 10, Điều 1, dự thảo quy định cơ chế phân bổ, điều chỉnh giữa chi đầu tư và chi thường xuyên. Tuy nhiên, theo đại biểu, dự thảo chưa quy định rõ nội dung chi cho hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, thuê dịch vụ chuyên môn và chuyển giao năng lực.

Đại biểu cho rằng đây là khoảng trống cần được làm rõ ngay trong nghị quyết, bởi việc trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương chỉ có thể phát huy đầy đủ hiệu quả khi đi cùng các điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực thực thi. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại điểm a, khoản 10, Điều 1 theo hướng: “Trong phạm vi dự toán chi thường xuyên của Chương trình, được bố trí kinh phí cho hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, chuẩn bị dự án, chuẩn hóa quy trình, nâng cao năng lực quản trị, đào tạo tại chỗ, thuê dịch vụ chuyên môn và chuyển giao phương pháp quản lý theo quy định của pháp luật”.

Đồng thời, tại khoản 9, Điều 1, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc: “Tổ chức, chuyên gia tư vấn thực hiện theo cơ chế đồng hành; cán bộ cơ quan nhà nước trực tiếp tham gia thực hiện và tiếp nhận chuyển giao năng lực. Tư vấn không thay thế cơ quan nhà nước thực hiện thẩm quyền quyết định và không làm thay trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ”.

Từ thực tiễn tổ chức thực hiện, đại biểu lưu ý cần tránh hai khuynh hướng. Một mặt, nếu hoạt động hỗ trợ chỉ dừng ở các lớp tập huấn mang tính lý thuyết thì cán bộ cơ sở vẫn có thể lúng túng khi xử lý hồ sơ, công việc thực tế. Mặt khác, nếu thuê tư vấn thực hiện thay thì có thể giải quyết được công việc trước mắt nhưng lại dễ hình thành sự phụ thuộc lâu dài, không nâng được năng lực của chính đội ngũ cán bộ tại địa phương.

Vì vậy, theo đại biểu, tư vấn phải gắn với chuyển giao năng lực. Việc nghiệm thu kết quả hỗ trợ cũng cần căn cứ vào sản phẩm đầu ra và kết quả chuyển giao, thay vì chỉ dựa trên số cuộc họp, số lớp tập huấn hay ngày công chuyên gia. Mục tiêu cuối cùng là sau một thời gian được hỗ trợ, địa phương phải có khả năng tự tổ chức thực hiện công việc tốt hơn. Đây chính là yêu cầu bảo đảm tính bền vững của hoạt động hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình triển khai một Chương trình mục tiêu quốc gia có phạm vi rộng và thời gian thực hiện dài.

Giải ngân là chỉ tiêu về tiến độ, không đồng nhất với hiệu quả chương trình

Nhóm vấn đề thứ ba được đại biểu Thạch Phước Bình đề cập liên quan khoản 8, Điều 1 và khoản 2, Điều 4, trong đó cần nâng cao yêu cầu đánh giá kết quả thực chất và kiểm soát việc điều chỉnh nguồn lực. Theo khoản 8, Điều 1, dự thảo nghị quyết quy định hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra, trong đó có mức độ hoàn thành mục tiêu, tiến độ, giải ngân và sự hài lòng của Nhân dân; đồng thời giao Chính phủ quy định việc cập nhật, chia sẻ và xây dựng dữ liệu đánh giá.

Đại biểu bày tỏ đồng tình với cách quy định này, nhưng cho rằng cần làm rõ hơn một nguyên tắc quan trọng: Giải ngân là một chỉ tiêu về tiến độ, không đồng nhất với hiệu quả của chương trình. Theo đại biểu, một dự án dù giải ngân đầy đủ nhưng không cải thiện được thu nhập, sinh kế, chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa hoặc điều kiện sống của người dân thì chưa thể coi là đạt hiệu quả chỉ dựa trên tỷ lệ giải ngân.

Vì vậy, tại khoản 8, Điều 1, đại biểu đề nghị bổ sung: “Yêu cầu dữ liệu phục vụ đánh giá phải được chuẩn hóa, có khả năng truy xuất, đối soát và kiểm chứng; kết quả đánh giá phải phản ánh mức độ thụ hưởng thực tế của người dân và hiệu quả đầu ra của từng nhóm nhiệm vụ”. Việc bổ sung yêu cầu này sẽ góp phần chuyển trọng tâm đánh giá từ tiến độ sử dụng nguồn lực sang chất lượng và hiệu quả thực tế mà chương trình mang lại cho người dân. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với chính sách về giảm nghèo, phát triển sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa, dân tộc và miền núi, bởi tác động cuối cùng phải được phản ánh qua sự thay đổi trong đời sống của đối tượng thụ hưởng.

Điều chỉnh nguồn lực phải bảo đảm không làm giảm quyền lợi của đối tượng thụ hưởng

Liên quan đến khoản 2, Điều 4, đại biểu Thạch Phước Bình cho biết dự thảo nghị quyết cho phép HĐND cấp tỉnh quyết định điều chỉnh, chuyển đổi vốn giữa các dự án, nhiệm vụ trong tổng mức vốn được giao. Đây là cơ chế nhằm tăng tính chủ động cho địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, quyền chủ động này phải được đặt trong mối quan hệ với những nguyên tắc đã được xác lập ngay trong dự thảo nghị quyết. Cụ thể, khoản 1, Điều 2 đã quy định việc hợp nhất không được làm thu hẹp mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã được Quốc hội quyết định tại 4 chương trình trước khi hợp nhất.

Do đó, để bảo đảm sự thống nhất giữa nguyên tắc tại khoản 1, Điều 2 và thẩm quyền điều chỉnh nguồn lực tại khoản 2, Điều 4, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 2, Điều 4 nội dung: “Việc điều chỉnh, chuyển đổi vốn giữa các nhiệm vụ, lĩnh vực phải đánh giá tác động đến mục tiêu, chỉ tiêu, đối tượng thụ hưởng và mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản; bảo đảm không làm giảm quyền lợi, mức độ ưu tiên và các mục tiêu tối thiểu đã được Quốc hội quyết định”. Theo đại biểu, quy định như vậy vừa bảo đảm quyền chủ động cần thiết cho địa phương, vừa tạo cơ chế kiểm soát nhằm ngăn ngừa nguy cơ nguồn lực tập trung vào các dự án dễ triển khai, dễ giải ngân, trong khi những nhiệm vụ khó lượng hóa nhưng có tác động trực tiếp đến người dân lại bị thu hẹp.

Từ ba nhóm vấn đề góp ý, đại biểu Thạch Phước Bình nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm sự thống nhất giữa phân bổ nguồn lực, phân cấp thực hiện, hỗ trợ nâng cao năng lực và đánh giá hiệu quả đầu ra. Trong đó, phân cấp phải dựa trên năng lực thực thi; hỗ trợ kỹ thuật phải hướng đến việc giúp địa phương từng bước tự thực hiện được nhiệm vụ; kết quả chương trình phải được đánh giá bằng mức độ thụ hưởng và những chuyển biến thực tế trong đời sống người dân; còn việc điều chỉnh nguồn lực phải bảo đảm không làm suy giảm các mục tiêu, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã được Quốc hội quyết định. Đây là những điều kiện quan trọng để chủ trương hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia tạo sự thống nhất về nguồn lực và cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả thực chất trong quá trình triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa- xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.

QUỲNH NHƯ

 

 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh