Ngày 19/8/2026, Quốc hội khóa XVI tiếp tục ngày làm việc thứ nhất, đợt 2 của Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất. Quốc hội thảo luận ở Tổ về Định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 Chương trình mục tiêu quốc gia); định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023, Định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Trúc Sơn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, phát biểu tại tổ 12 sáng ngày 19/8/2026. |
Tham gia Phát biểu tại phiên thảo luận ở Tổ 12 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh Vĩnh Long, Điện Biên và Lạng Sơn), đại biểu Nguyễn Trúc Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long thống nhất cao chủ trương hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) và Luật Đầu tư công (ĐTC), các quan điểm lớn mà Dự án luật nêu ra đó là hợp nhất kế hoạch tài chính 5 năm, kế hoạch đầu tư công trung hạn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa các cơ quan dân cử, cơ quan thực thi ở cấp trung ương và địa phương; xác định rõ nguồn lực của chính quyền địa phương (tỉnh/xã); các nguyên tắc, tiêu chí, định mức sử dụng nguồn quỹ ngân sách nhà nước, dự toán, thực hiện và thanh quyết toán chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển; khi hợp nhất không bỏ sót những quy định có giá trị thực tiễn, đồng thời không tạo ra sự mâu thuẩn, chồng chéo mới các luật liên quan. Đại biểu góp 1 số ý cụ thể như sau:
Thứ nhất, về hợp nhất nghị quyết kinh tế-xã hội 5 năm, hằng năm, đầu tư công, dự toán chi NSNN hằng năm và 5 năm: Ở cấp độ Quốc gia, Quốc hội hợp nhất trong 1 nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm và kế hoạch đầu tư công trung hạn. Ở gốc độ địa phương, cần đồng bộ hóa 3 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành một là Kế hoạch Kinh tế - xã hội, Đầu tư công và dự toán thường xuyên nhằm đảm bảo tính gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu phát triển và nguồn lực thực thi từng năm và 5 năm; giữa kỳ có thể xem xét điều chỉnh phù hợp thực tiễn và nguồn lực.
Thứ hai, nguyên tắc phân cấp, phân quyền linh hoạt giữa các cấp chính quyền
Trong dự thảo luật cần định hình lại cơ chế phân cấp, phân quyền rõ ràng: ở cấp trung ương là giữa Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; ở địa phương là giữa Hội đồng nhân dân (HĐND), Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND) và Chủ tịch UBND; phân cấp từ cấp tỉnh cho cấp xã. Đại biểu đề xuất nguyên tắc xuyên suốt: luật phân cấp thẩm quyền từ Quốc hội cho UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như thế nào thì Hội đồng nhân dân phân cấp cho Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch UBND tương xứng cấp chính quyền như thế. Quốc hội phải nắm nguồn lực tổng thể, quan trọng theo chương trình, lĩnh vực, còn Chính Phủ là cụ thể, chi tiết, tương tự ở HĐND và UBND tỉnh. Việc điều chỉnh nguồn trong tổng thể là thuộc cấp dưới trực tiếp, không làm thay đổi mục tiêu, định hướng lớn nhằm linh hoạt trong điều hành kinh tế-xã hội, đầu tư phát triển. Quốc hội và Hội đồng nhân dân tập trung xây dựng chính sách, kiểm soát, giám sát nguồn lực quốc gia, nguồn lực địa phương, hạn chế can thiệp từng việc, từng dự án ở các cấp. Ở địa phương, Hội đồng nhân dân phân cấp cho Thường trực HĐND thẩm quyền giải quyết các phát sinh trong điều hành thường xuyên mà không phải chờ đợi các kỳ họp chính thức của HĐND. Kết quả xử lý sẽ được báo cáo lại tại kỳ họp gần nhất.
Thứ ba, một số điều, khoản chi tiết đóng góp cho dự thảo dự án luật:
Về tên gọi dự án luật, năm tài chính (điều 15). Về tên gọi, cơ bản tán thành dự thảo hợp nhất hai Luật Ngân sách nhà nước và Luật đầu tư công thành Luật Ngân sách nhà nước (gọn, dễ hiểu). Đại biểu gợi ý nếu phản ánh toàn diện về NSNN chính xác và bao hàm phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc, định mức, kế toán… thì có thể xem xét tên gọi là "Luật Thu, chi ngân sách nhà nước hoặc Luật Quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước". Về năm tài chính, đã có độ vênh giữa chi thường xuyên và chi đầu tư công, đo đó cần thẩn trọng quy định, đặt mốc năm tài chính phù hợp, ví dụ: năm tài chính bắt đầu từ 1/1 và kết thúc ngày 31/12 hằng năm, nhưng đầu tư công thông lệ giải ngân đến 31/1 của năm sau (tương đương 13 tháng) nhưng được tính cho năm hiện hành kết thúc 31/12. Đây là điểm vênh của dự án luật cần xử lý rõ. Điều khoản cấm (Điều 17): tại Điều 17 cấm phê duyệt dự án đầu tư công không có trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Đại biểu Nguyễn Trúc Sơn cho rằng quy định này cần bổ sung ngoại lệ đối với các trường hợp đặc biệt phát sinh từ thực tiễn như thiên tai, dịch bệnh, sự cố hạ tầng (cầu/đường/đê) hoặc các nhiệm vụ khẩn cấp về biến đổi khí hậu, môi trường và an ninh quốc gia.
Về điều tiết nguồn thu từ đất (chuyển mục đích, cho thuê đất..) tại điều 36: Đại biểu đề nghị xem xét lại tỷ lệ điều tiết nguồn thu từ chuyển mục đích sử dụng đất, thuê đất (Điều 36). Dự thảo quy định tỷ lệ phân chia nguồn thu từ đất và thuê đất giữa Trung ương và địa phương ở mức 20-80 (đối với tỉnh, thành cân đối) và 15-85 (đối với tỉnh chưa tự cân đối).
Đại biểu chỉ ra bất cập: Các thành phố, tỉnh lớn được dồn nguồn lực đầu tư công để phát triển hạ tầng, tạo quỹ đất, khai thác TOD nên giá trị tạo ra từ đất lớn, thu từ nguồn sử dụng đất lớn. Ngược lại, các địa phương còn khó khăn (miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên) có vốn đầu tư công hạn hẹp, đất nông nghiệp, doanh nghiệp được miễn, giảm tiền thuê đất nên nguồn thu này từ đất không đáng kể. Vì vậy, đề xuất "Đối với các tỉnh chưa cân đối được ngân sách, đề nghị áp dụng cơ chế điều tiết ưu đãi tương tự vay lại (90-10 hoặc 95-5) để giúp địa phương giữ lại nguồn lực phát triển. Ngược lại, với các thành phố lớn nhận nguồn đầu tư công lớn từ Trung ương, cần nâng tỷ lệ điều tiết về Trung ương lên 30% (70-30)".
Về hạn mức tạm ứng chi, đầu tư công (Điều 68 và Điều 69): Hiện tại, Điều 68 khống chế mức ứng trước không vượt quá 30% tổng dự toán chi của chương trình, nhiệm vụ, dự án. Nhằm tạo sự chủ động và đẩy nhanh tiến độ thực hiện đối với các công trình trọng điểm, cấp bách, biến đổi khí hậu hay an ninh năng lượng, đại biểu kiến nghị luật linh hoạt, chỉ giới hạn mức tạm ứng tối đa không quá 50% và do bên được phân cấp quyết định. Bên cạnh đó, dự thảo cần quy định rõ ràng tiêu chí tạm ứng và hoàn trả tạm ứng từ Quỹ dự trữ tài chính (mốc 12 tháng hay 36 tháng) tương ứng với từng tiêu chí, mục tiêu tạm ứng để rõ ràng trong thực thi.
Về điều khoản chuyển tiếp (Điều 100, 101): đại biểu đề xuất các kế hoạch tài chính, đầu tư công đã được phê duyệt trước khi luật này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo luật cũ để tránh xáo trộn công tác quản lý. Luật mới áp dụng cho kỳ quyết toán từ năm 2026 và dự toán năm 2028 trở đi.
Thứ tư, các góp ý khác: đề xuất Ban soạn thảo cân nhắc, xem xét quy định, phân loại rõ các nhóm dự án đầu tư công Nhóm A, B, C và các dự án đầu tư công đặc biệt, đặc thù. Rút ngắn thời gian bố trí vốn: Hiện nay nhóm A là 6 năm (lệch với kỳ trung hạn 5 năm). Đại biểu đề xuất rút ngắn thời gian bố trí vốn nhóm A còn 5 năm; nhóm B và C linh hoạt từ 2 đến 4 năm tùy quy mô và tính chất kỹ thuật. Với kỹ thuật và công nghệ thi công hiện nay, các dự án hoàn toàn có khả năng hoàn thành trong kỳ trung hạn.
Thứ năm là tách bạch chi thường xuyên và chi đầu tư: đại biểu đề nghị cần làm rõ ranh giới giữa chi thường xuyên có tính chất đầu tư và chi dự án đầu tư công. Cùng là ngân sách nhà nước, đầu tư thì quy trình, thủ tục như nhau và gộp nguồn đầu tư phát triển. Các khoản chi không mang tính chất dự án như chi ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội, chi công tác quy hoạch thì quy định từ nguồn chi thường xuyên là phù hợp.
Thứ sáu là cần nghiên cứu quy trình, thủ tục đầu tư từ nguồn ODA, tiệp cận dần chi đầu tư công từ nguồn trong nước. Hiện nay các dự án ODA đang chịu sự ràng buộc song trùng từ hai cấp (nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam) khiến tiến độ thực hiện kéo dài, tâm lý các địa phương rất e ngại nhận đầu tư từ nguồn ODA. Đại biểu đề nghị cần cải cách mạnh mẽ, đơn giản hóa trình tự thủ tục và phân quyền mạnh hơn cho cấp tỉnh đối với nguồn vốn ODA.
HỒNG YẾN


