Tản văn

Đèn lồng ống lon

07:25, 13/09/2026

Những năm tháng của cái thời một ngàn chín trăm hồi ấy, cứ đến độ tháng 8 âm lịch, nắng thu lại chao nhẹ rồi buông xuống vạt bãi bồi một màu mật sên đỏ quạch.

Dòng sông cạnh nhà dâng nước mấp mé bờ gò, xô những vạt bèo dập dềnh trong làn gió heo mây. Bọn trẻ chúng tôi hay tụ tập cạnh bãi bồi ven sông ấy, dùng chiếc dao phay gọt vỏ cây tre, nghe mùi sáp ong nồng nàn quyện vào hương khói bếp lam chiều, hí hửng cùng nội thực hiện một lời hứa tưởng chừng cũ rích.

Năm đó, tôi tròn tám tuổi. Trung thu cạnh mùa bão lũ. Cả xóm chìm trong cái nghèo xơ xác sau mùa nước nhảy khỏi bờ. Khó khăn là thế, nên đứa trẻ nào ở cái đất bãi bồi này cũng thèm có được một chiếc đèn ông sao dán giấy kiếng đỏ rực, hay chiếc đèn kéo quân xoay tròn những hình bóng người nhảy múa bán ngoài chợ tận thị xã.

Nhớ hoài cái chiều mười bốn, nhìn mấy đứa bạn trong xóm khoe nhau những chiếc đèn lồng ông sao, cá chép đủ màu, tôi lén chui tót ra sau lu nước, ngồi xị mặt tủi thân. Nội chống gậy trúc bước ra, thấy đứa cháu thu mình gạt nước mắt, đôi mắt đục mờ của ông nheo lại đầy xót xa.

Nội khuỵu đôi gối đã khô khốc xuống nền đất ướt nhẹp, xoa nhẹ mái tóc khét nắng của tôi rồi thì thầm bằng cái giọng quê đặc rệt, trầm ấm như tiếng phù sa vỗ bờ, rằng tôi cũng sẽ có một cái đèn trung thu độc nhất. Nói rồi, nội tay gậy tay cối bước ra sau vườn nhà.

Nội lựa những lon sữa bò cũ mà mình nhặt nhạnh trước đó, đem rửa sạch bóng. Bàn tay chai sần, run run của nội cầm chiếc đinh và cái búa đập cốc... cốc..., tỉ mẩn đục từng cái lỗ nhỏ xung quanh thân lon. Nội đục thành hình ngôi sao, hình vầng trăng khuyết, rồi dùng thanh tre uốn cong làm quai xách. Bên trong, nội gắn một đoạn nến sáp tự đúc bằng mỡ heo và sáp ong rừng thơm nức.

Tối mười lăm, bầu trời đêm ở quê trong veo như mắt mèo. Mặt trăng rằm tháng 8 tròn vành vạnh, tỏa ra một thứ ánh sáng dát bạc lên khắp vạt sông và những mái nhà thấp. Lũ trẻ trong xóm xúm lại đầu gò đất. Giữa những chiếc đèn lồng ông sao lấp lánh rực rỡ, chiếc đèn ống lon của tôi nhìn qua có phần cục mịch, đen đúa.

Nội chậm rãi quẹt que diêm, châm ngọn lửa vào lòng lon sữa bò. Kỳ diệu thay! Từ chiếc lon sắt hoen gỉ dường như vô giá trị, ánh sáng vàng ấm áp tràn ra, xuyên qua những lỗ đục nhỏ xíu. Nó chiếu xuống mặt đất khô nẻ những vệt sáng lung linh hình ngôi sao, hình vầng trăng khuyết tươi đẹp. Khi tôi cầm thanh tre kéo chiếc lon bò chạy trên con đường đê, chiếc lon lăn tròn lẻng kẻng, tỏa ra những luồng sáng xoay tít như một vầng hào quang thu nhỏ. Mùi sáp ong cháy thơm nức không gian, quyện vào mùi cỏ mục và hương hoa quỳnh nở về đêm.

Đêm đó, cả lũ trẻ trong xóm nối đuôi nhau chạy dọc theo bờ gò, reo hò dưới ánh trăng rằm. Chiếc đèn ống lon của tôi lăn đi trước, dẫn đường cho những tiếng cười trong trẻo vang vọng cả vạt sông phía sau. Thỉnh thoảng trong một khoảng nghỉ giữa vô vàn tiếng cười, tôi ngó lại, thấy xa xa bên gốc dừa, nội chống gậy mỉm cười, ánh trăng thu soi rõ những nét nhăn nheo nhưng đong đầy hạnh phúc trên khuôn mặt của nội.

Chiếc ống lon năm ấy, qua bàn tay chắt chiu và tình thương bao la của nội, đã biến cái nghèo khó thành một ký ức tuyệt đẹp. Nội dạy tôi bài học đầu đời về niềm vui, rằng giá trị của một mùa Trung thu không nằm ở món đồ đắt tiền mua sẵn. Nó nằm ở cái tình, ở sự chăm chút và thương yêu của người lớn dành cho con trẻ. Tiếng cười ngày nhỏ, thì ra chỉ cần mua bằng một cái ống lon.

Bây giờ, xóm tôi đã khác xưa nhiều. Đường đê đã đổ bê tông phẳng lì, cửa hàng mọc lên với muôn vàn loại đèn lồng điện tử rực rỡ sắc màu mỗi độ Trung thu. Nhưng chẳng hiểu sao, mỗi lần nhìn vầng trăng rằm tháng 8 tỏa ánh bạc xuống mặt sông, lòng tôi chỉ da diết nhớ về tiếng lẻng keng của chiếc ống lon cũ, nhớ mùi sáp ong cháy thơm nồng trong đêm gió thu và nhớ bàn tay chai sần của ông nội, người đã thắp lên trong tâm hồn thơ dại của tôi một vầng trăng nhiệm màu.

NGUYÊN VĂN

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh