Để mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm chi phí logistics, ĐBSCL cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông (GT) theo hướng đồng bộ, hiện đại, kết nối đa phương thức. Trong đó, đổi mới cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực, phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công và tăng cường liên kết vùng.
![]() |
| Những năm gần đây, tỉnh đẩy mạnh đầu tư hạ tầng giao thông. Trong ảnh: ĐT903 (đoạn qua xã Cái Nhum) đang dần hoàn thiện. |
Phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công
Những năm qua, cùng với sự quan tâm của Trung ương và nỗ lực của địa phương, hệ thống kết cấu hạ tầng GT ĐBSCL từng bước được đầu tư, hoàn thiện và có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều công trình GT quy mô lớn, có tính chất liên kết vùng được đầu tư và đưa vào khai thác, góp phần cải thiện khả năng kết nối, rút ngắn thời gian lưu thông, nâng cao năng lực vận tải.
Đó là các tuyến cao tốc TP Hồ Chí Minh- Trung Lương, Trung Lương- Mỹ Thuận, Mỹ Thuận- Cần Thơ, Lộ Tẻ- Rạch Sỏi cùng các cầu lớn như Cần Thơ, Cổ Chiên, Cao Lãnh, Vàm Cống, Mỹ Thuận 2 và Rạch Miễu 2... Những công trình này từng bước hình thành mạng lưới GT có tính liên kết nội vùng, liên vùng, kết nối ĐBSCL với TP Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ và hành lang kinh tế.
Tư duy đầu tư hạ tầng GT có sự chuyển biến đáng kể, địa phương ngày càng quan tâm hơn đến yêu cầu kết nối vùng, kết nối đa phương thức và phát huy vai trò của hạ tầng GT đối với phát triển kinh tế- xã hội. Hệ thống đường cao tốc đang từng bước được hình thành, tuyến trục dọc, trục ngang kết nối với TP Hồ Chí Minh và các trung tâm kinh tế lớn. Cùng với đường bộ, đường thủy nội địa, cảng biển, cảng hàng không và đầu mối logistics ngày càng được quan tâm đầu tư…
Tuy nhiên, nhu cầu đầu tư GT của ĐBSCL vẫn rất lớn trong khi nguồn lực ngân sách nhà nước còn hạn chế. Đặc điểm địa hình sông ngòi chằng chịt, nền đất yếu, nhiều cầu lớn, công trình vượt sông và yêu cầu xử lý nền móng cao khiến chi phí đầu tư tương đối lớn. Tính kết nối nội vùng, liên vùng chưa thật sự đồng bộ, trong khi chi phí logistics cao, phần nào ảnh hưởng đến khả năng phát huy đầy đủ tiềm năng, lợi thế của vùng.
![]() |
| ĐBSCL có điều kiện rất lớn để phát triển hệ thống logistics và giao thông đa phương thức. Trong ảnh: Sông Cổ Chiên chảy qua đô thị Vĩnh Long nhìn từ trên cao. |
Theo TS Nguyễn Thắng Lợi- Phó Viện trưởng, Phụ trách Viện Nghiên cứu và Phát triển logistics Việt Nam (VLI), ĐBSCL đang thiếu hụt dịch vụ logistics, khi cả vùng chỉ có hơn 1,4 ngàn doanh nghiệp cung ứng. Hệ thống hàng hóa của ĐBSCL có 90% phải vận chuyển bằng đường bộ lên các cảng biển lớn ở vùng Đông Nam Bộ. Ngoài ra ĐBSCL thiếu hụt đơn vị chuỗi cung ứng lạnh; dự án cao tốc chậm tiến độ, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư giảm...
Từ thực tiễn này, theo TS Nguyễn Thắng Lợi, ĐBSCL cần phát triển hạ tầng logistics và GT đa phương thức gồm: hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu và xanh hóa hạ tầng. Hoàn thiện kết nối hạ tầng chiến lược; tái cơ cấu vận tải theo phương thức đa phương và phát triển hạ tầng logistics tại nguồn.
Trung ương cần ưu tiên vốn cho hành lang GT huyết mạch, tháo gỡ khó khăn vướng mắc về giải phóng mặt bằng; cải thiện cơ chế PPP, ODA…
Chính quyền địa phương cần có quy hoạch vùng sản xuất gắn với logistics; thu hút đầu tư FDI, tư nhân vào chế biến sâu, chuỗi lạnh và hạ tầng số. Đặc biệt, cộng đồng doanh nghiệp cần đầu tư cơ sở vật chất, liên kết với HTX và nông dân; ứng dụng công nghệ số để tối ưu vận tải, giảm hao hụt…
Các chuyên gia cho rằng, ĐBSCL cần đổi mới tư duy đầu tư, phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công. Tiếp tục xác định kết cấu hạ tầng GT là một trong những hạ tầng chiến lược, có vai trò quan trọng trong mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của toàn vùng.
Từng bước chuyển từ tư duy “phân bổ vốn cho từng dự án” sang tư duy “tạo lập không gian phát triển và huy động nguồn lực theo chuỗi”. Trong điều kiện nguồn lực ngân sách còn hạn chế, cần ưu tiên vốn đầu tư công cho công trình có tính chất động lực, kết nối vùng, kết nối quốc tế, có tác động lan tỏa lớn và những dự án khó thu hút đầu tư tư nhân.
Phấn đấu là trung tâm liên kết vùng
Một trong những vấn đề có ý nghĩa then chốt là tăng cường liên kết vùng, phát triển GT đa phương thức gắn với logistics. Những công trình có tính chất liên tỉnh, liên vùng cần được xem xét trong một tổng thể thống nhất, hạn chế đầu tư dàn trải và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đứng trước những không gian phát triển mới, tỉnh hoàn toàn có thể phấn đấu trở thành “trái tim” kết nối của cả vùng ĐBSCL.
![]() |
| Công trình thủy lợi, đê điều kết hợp với giao thông nếu được quy hoạch đồng bộ sẽ góp phần phục vụ đa mục tiêu. Trong ảnh: Hệ thống cống, giao thông thủy sông Măng Thít đi qua địa bàn xã Trà Ôn. |
Theo ông Lê Văn Nhân- Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh, với công trình GT trọng điểm đã hoàn thành như cao tốc Mỹ Thuận- Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận 2 đã giúp tỉnh phá vỡ thế độc đạo, định hình cho tỉnh thành trung tâm huyết mạch trên trục Đông- Tây ĐBSCL. Đồng thời hiện nay đóng vai trò là điểm nối chiến lược, khơi thông giao thương giữa TP Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL.
“Các công trình trọng điểm tỉnh tiếp tục đầu tư, bứt phá thi công như: cầu Đình Khao và tuyến tránh QL57; cầu Tam Bình kết nối ĐT905; cầu Đại Ngãi nối liền TP Cần Thơ; cầu Ba Lai 8 và 6; ĐT909B; cầu Cửa Đại và cầu Cổ Chiên 2; tuyến đường bộ ven biển; tuyến hành lang ven biển… sẽ là những công trình đưa tỉnh bứt phá trong thời gian tới”- ông Nhân cho biết.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc đầu tư công trình thủy lợi, đê điều kết hợp GT đối với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh là rất quan trọng. Điều này cho thấy yêu cầu phát triển hạ tầng cần được đặt trong mối liên hệ tổng thể giữa GT, thủy lợi, môi trường và không gian phát triển. Việc đồng bộ GT với hệ thống thủy lợi, thoát nước, kiểm soát lũ, phòng chống sạt lở và ưu tiên giải pháp công trình đa mục tiêu là yêu cầu cần được quan tâm ngay từ khâu chuẩn bị dự án.
Theo ThS Lê Quang Răng- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, hệ thống thủy lợi, đê điều và GT đều là những bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Từ thực tiễn cho thấy công trình thủy lợi, đê điều kết hợp với GT đã được hình thành từ khá lâu trên địa bàn tỉnh và có quy mô đáng kể, đặc biệt là hệ thống cống, đê bao, bờ bao kết hợp với GT nông thôn. Nếu 3 yếu tố này quy hoạch riêng lẻ, sẽ dễ phát sinh xung đột về không gian, cao độ, tiêu thoát nước, hành lang công trình và nguồn lực đầu tư.
Ngược lại, nếu được quy hoạch và đầu tư đồng bộ, 3 yếu tố này sẽ tạo động lực phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, phục vụ đa mục tiêu, vừa phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, vừa nâng cao khả năng phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.
ĐBSCL nói chung, Vĩnh Long nói riêng đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức. Trong quá trình đó, Nhà nước tiếp tục giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và tạo lập môi trường thuận lợi; khu vực tư nhân được khuyến khích tham gia mạnh mẽ hơn; nguồn vốn quốc tế được khai thác phù hợp; nguồn lực đất đai được sử dụng hiệu quả và cơ chế điều phối vùng tiếp tục được củng cố.
Quan trọng hơn, cần từng bước chuyển từ tư duy “đầu tư từng công trình” sang “đầu tư gắn với hệ sinh thái hạ tầng và không gian phát triển”; từ tập trung vào từng dự án riêng lẻ sang tăng cường kết nối giữa GT- logistics- đô thị- sản xuất- thương mại- dịch vụ trong một tổng thể thống nhất. Khi đó, mỗi đồng vốn đầu tư công sẽ có điều kiện phát huy hiệu quả lan tỏa tốt hơn, đồng thời tạo thêm động lực thu hút nguồn lực xã hội và hình thành những không gian phát triển mới cho toàn vùng.
Bài, ảnh: KHÁNH DUY




