NGHỊ QUYẾT 57-NQ/TW PHẢI TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI

Kỳ 4: Thúc đẩy liên kết, chuyển giao khoa học, công nghệ

13:06, 06/10/2026

Là một trong những tỉnh của ĐBSCL, Vĩnh Long giữ vai trò chiến lược đối với an ninh lương thực, xuất khẩu nông, thủy sản và cân bằng sinh thái của quốc gia.

Trước yêu cầu phát triển nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng và giá trị gia tăng trên cơ sở khoa học, công nghệ (KH-CN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST), việc liên kết ứng dụng, chuyển giao và đề xuất giải pháp đưa tiến bộ KH-CN vào thực tiễn đang ngày càng cấp thiết.

Sinh viên Trường ĐH Cửu Long thực hành trong phòng thí nghiệm, nâng cao năng lực ứng dụng khoa học, công nghệ.
Sinh viên Trường ĐH Cửu Long thực hành trong phòng thí nghiệm, nâng cao năng lực ứng dụng khoa học, công nghệ.

Để chuyển hóa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Tại hội thảo khoa học “Đề xuất giải pháp về cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào thực tiễn sản xuất - khu vực ĐBSCL”, TS Phạm Thị Thu Hồng - Giám đốc Trung tâm KH-CN Cửu Long (Trường ĐH Cửu Long) cho rằng, một thực tế khách quan cần thẳng thắn nhìn nhận là tỷ lệ công trình nghiên cứu, tiến bộ kỹ thuật được đưa vào ứng dụng thực tế sản xuất ở quy mô thương mại đại trà còn rất hạn chế. Sợi dây liên kết giữa giảng đường và đồng ruộng, giữa phòng thí nghiệm và nhà máy vẫn còn những điểm nghẽn, đứt gãy mang tính hệ thống.

Theo TS Phạm Thị Thu Hồng, các đề tài KH-CN thường dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc mô hình trình diễn nhỏ. Khi doanh nghiệp (DN) tiếp nhận, họ không thể đưa ngay vào dây chuyền sản xuất vì thiếu giai đoạn thử nghiệm quy mô pilot để tối ưu hóa chi phí và phát hiện lỗi vận hành.

Đây gọi là “thung lũng chết” của dự án chuyển giao công nghệ. Trong khi đó, việc chuyển giao một bản quyền công nghệ cho DN có quy trình thẩm định từ 1-2 năm, khi hoàn tất thủ tục, công nghệ có nguy cơ đã lỗi thời. Mặt khác, việc đầu tư mua công nghệ mới luôn tiềm ẩn rủi ro thất bại lớn do yếu tố thời tiết, thị trường hoặc lỗi đồng bộ hệ thống.

Theo PGS.TS Bạch Long Giang - Trưởng Phòng KH-CN (Trường ĐH Nguyễn Tất Thành), thực tiễn tại ĐBSCL cho thấy quá trình chuyển giao công nghệ chịu ảnh hưởng đồng thời của điều kiện nguyên liệu, mùa vụ, nguồn nước, khí hậu, quy mô sản xuất và cấu trúc chuỗi giá trị.

Nhiều công nghệ chỉ có thể chứng minh đầy đủ hiệu quả khi được thử nghiệm trong điều kiện vận hành thực tế, có sự tham gia của DN, hợp tác xã, người sản xuất, tổ chức nghiên cứu, đơn vị kiểm định, tài chính và các chủ thể thị trường. Vì vậy, chất lượng của cơ chế phối hợp có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chuyển kết quả nghiên cứu thành năng lực sản xuất.

PGS.TS Bạch Long Giang cho rằng, yêu cầu trọng tâm của giai đoạn hiện nay là nâng cao khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành công nghệ có bằng chứng đủ tin cậy về kỹ thuật, kinh tế và khả năng thị trường để DN tiếp nhận, vận hành và nhân rộng.

Quá trình này cần liên kết từ xác định nhu cầu, nghiên cứu - phát triển, hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, sở hữu trí tuệ, đầu tư đến thị trường; trong đó nghiệm thu nhiệm vụ là một mốc chuyên môn trong vòng đời công nghệ, còn giá trị cuối cùng được thể hiện qua mức độ ứng dụng và tác động thực tế.

Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành

Hướng tới, TS Phạm Thị Thu Hồng đề xuất 3 nhóm giải pháp đột phá về cơ chế chính sách, nguồn lực tài chính và cơ chế phối hợp, nhằm thay đổi cơ chế vận hành của thị trường KH-CN.

Cần có hội đồng chuyển giao công nghệ và ĐMST vùng ĐBSCL điều phối chung, xây dựng và cập nhật hàng năm “bản đồ số nhu cầu công nghệ và bài toán cốt lõi của vùng”. Ký kết hợp đồng chuyển giao 3 bên: các trường ĐH (nghiên cứu, cung cấp giải pháp)- DN (đặt hàng, cam kết đối ứng, tiếp nhận công nghệ) - Nhà nước (tài trợ ngân sách, bảo trợ chính sách)...

PGS.TS Bạch Long Giang đề xuất mô hình liên kết “3 nhà”: Nhà nước - nhà trường/viện nghiên cứu - DN, tương ứng với 3 chức năng cốt lõi về thể chế - tri thức - thị trường và cùng tham gia xuyên suốt vòng đời công nghệ.

Đồng thời thiết lập các mốc đánh giá gắn phân bổ nguồn lực với bằng chứng kỹ thuật, kinh tế và khả năng tiếp nhận. Cần tập trung vào quản trị danh mục bài toán công nghệ, phân bổ nguồn lực theo mức độ sẵn sàng và kết quả, phối hợp trách nhiệm giữa 3 chủ thể, cùng hệ thống dữ liệu và phản hồi chính sách sau ứng dụng. Cách tiếp cận này hướng tới nâng cao tỷ lệ công nghệ được tiếp nhận, vận hành ổn định, làm chủ và tạo giá trị kinh tế - xã hội, môi trường trong thực tiễn sản xuất.

Phó Cục trưởng Cục ĐMST (Bộ KH-CN) Chu Thúc Đạt cho rằng, cần đổi mới cách đặt hàng nhiệm vụ KH-CN và ĐMST, lấy vấn đề thực tiễn, nhu cầu của DN, ngành, địa phương và người dân làm điểm xuất phát. DN cần tham gia ngay từ khâu xác định vấn đề, đặt hàng, thực hiện, thử nghiệm và tiếp nhận kết quả. Hình thành các cơ chế “đỡ đầu” cho giai đoạn từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm thương mại.

Cần tận dụng các cơ chế về sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, tiêu chuẩn - quy chuẩn, sở hữu trí tuệ, chuyển giao và voucher ĐMST. Đồng thời, phát huy vai trò của tổ chức trung gian, trung tâm ĐMST, trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đơn vị tư vấn, môi giới, định giá và xúc tiến chuyển giao công nghệ.

Ông Chu Thúc Đạt nhấn mạnh cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và liên chủ thể ở địa phương, trong đó cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò kiến tạo; viện, trường là nguồn cung tri thức và công nghệ; DN là chủ thể tiếp nhận, đầu tư và thương mại hóa; tổ chức trung gian làm nhiệm vụ kết nối; còn thị trường là thước đo cuối cùng của hiệu quả.

Và quan trọng hơn cả, cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả hoạt động KH-CN và ĐMST: không chỉ đánh giá có bao nhiêu đề tài được nghiệm thu, bao nhiêu báo cáo, bao nhiêu công bố, mà phải quan tâm có bao nhiêu kết quả được ứng dụng, bao nhiêu công nghệ được chuyển giao, bao nhiêu DN tiếp nhận, bao nhiêu sản phẩm mới được hình thành và giá trị kinh tế - xã hội được tạo ra là bao nhiêu.

Theo Ban Chỉ đạo Trung ương về KH-CN, ĐMST và chuyển đổi số, trọng tâm thời gian tới là đổi mới liên kết Nhà nước - viện, trường - DN. Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì đổi mới mô hình liên kết “3 nhà” theo hướng DN đặt bài toán và tham gia nguồn lực; viện, trường nghiên cứu, đào tạo; Nhà nước kiến tạo, đặt hàng, đầu tư/hỗ trợ đầu tư và chia sẻ rủi ro. Phát triển nhân lực theo 3 tầng: chuyên gia dẫn dắt/tổng công trình sư; kỹ sư R&D, thiết kế, tích hợp; kỹ thuật viên sản xuất, thử nghiệm, vận hành; thí điểm các cơ chế tổng công trình sư, giáo sư được tài trợ, giảng viên đồng cơ hữu gắn với nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể. Khuyến khích hình thành các trung tâm đồng nghiên cứu và phát triển (Co-R&D) giữa DN, viện nghiên cứu, trường ĐH; DN tham gia đồng tài trợ và tiếp nhận kết quả.

(Còn tiếp)

Bài, ảnh: TUYẾT HIỀN

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh