Phấn đấu tốc độ tăng trưởng khu vực I quý IV đạt 4,99%

06:00, 05/11/2026

Trong 9 tháng năm 2026, giá trị khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản) ước đạt 54.675 tỷ đồng, chiếm 26,55% GRDP toàn tỉnh; tốc độ tăng trưởng đạt 3,71%, đóng góp 1,19 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP của tỉnh. Để có thêm thông tin về tăng trưởng khu vực I trong những tháng cuối năm, phóng viên Trung tâm Báo Vĩnh Long phỏng vấn PGS.TS Lâm Văn Tân - Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường xoay quanh vấn đề này.

Công nhân sản xuất ở Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới. Ảnh: CẨM TRÚC
Công nhân sản xuất ở Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới. Ảnh: CẨM TRÚC

* Thưa Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường! Xin ông cho biết những kết quả nổi bật ngành nông nghiệp và môi trường đạt được trong 9 tháng năm 2026?

- PGS.TS Lâm Văn Tân: 9 tháng năm 2026, ngành tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, duy trì sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trong lĩnh vực trồng trọt, toàn tỉnh gieo trồng 347.511ha cây hàng năm, sản lượng ước đạt 3,74 triệu tấn. Diện tích cây lâu năm đạt 223.863ha, sản lượng 3,13 triệu tấn, trong đó cây dừa có diện tích 122.483ha và cây ăn trái 101.380ha. Đặc biệt, Đề án Phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tiếp tục được triển khai hiệu quả, với 9.624ha, vượt 20% kế hoạch; lợi nhuận bình quân trong mô hình tăng khoảng 14% so với phương thức canh tác ngoài mô hình, tương đương 5,1-6,5 triệu đồng/ha.

Lĩnh vực thủy sản tiếp tục là điểm sáng của ngành. Tổng sản lượng thủy sản thu hoạch trong 9 tháng đạt 732.383 tấn, tăng 2,65% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 508.965 tấn, tăng 3,87%. Nuôi thủy sản mặn, lợ đạt sản lượng 275.936 tấn, tăng 12,1%; riêng tôm nước lợ đạt 259.767 tấn, tăng 11,81% so với cùng kỳ.

Ngành tiếp tục đẩy mạnh tổ chức lại sản xuất, phát triển kinh tế hợp tác và liên kết chuỗi giá trị. Tỉnh hiện có 473 hợp tác xã nông nghiệp với 52.408 thành viên; 107 hợp tác xã thực hiện liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Công tác phát triển sản phẩm OCOP, quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm được quan tâm. Trong lĩnh vực môi trường và nông thôn, tỷ lệ che phủ rừng duy trì 2,3%, đạt kế hoạch; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt 99,7%.

* Theo ông, đâu là những khó khăn, hạn chế cần khắc phục?

- Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành vẫn còn một số khó khăn, hạn chế cần tập trung khắc phục. Tốc độ tăng trưởng khu vực I thấp hơn 0,15 điểm phần trăm so với kịch bản đề ra. Đây là thách thức đối với ngành trong những tháng cuối năm, đòi hỏi phải tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp và khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của từng lĩnh vực sản xuất.

Thu hoạch tôm thẻ chân trắng tại xã Thạnh Hải. Ảnh: CẨM TRÚC
Thu hoạch tôm thẻ chân trắng tại xã Thạnh Hải. Ảnh: CẨM TRÚC

Tiến độ sản xuất một số cây trồng, nhất là lúa, chịu ảnh hưởng của nắng nóng kéo dài và tiến độ xuống giống, thu hoạch. Giá cả một số mặt hàng nông sản chủ lực, đặc biệt là dừa và thủy sản, biến động khó lường; giá vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu và chi phí vận chuyển cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận của người sản xuất. Thị trường tiêu thụ chưa ổn định, việc liên kết giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua và cơ sở chế biến chưa thật sự chặt chẽ; năng lực bảo quản, chế biến sâu còn hạn chế.

Ngoài ra, sản xuất nông nghiệp còn phân tán, quy mô nhỏ lẻ; năng lực quản trị của một số hợp tác xã chưa đáp ứng yêu cầu; việc ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc chưa đồng đều. Trong lĩnh vực thủy sản, dịch bệnh trên tôm vẫn phát sinh rải rác, trong khi biến động môi trường và thời tiết bất lợi làm tăng rủi ro sản xuất. Tình trạng sạt lở, sụt lún, triều cường và tác động của biến đổi khí hậu tiếp tục đặt ra yêu cầu cao đối với công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và bảo đảm an toàn sản xuất.

* Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng bền vững, ngành sẽ triển khai những giải pháp đột phá nào để nâng cao giá trị nông sản, mở rộng liên kết sản xuất và tiêu thụ, đồng thời bảo đảm sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu, thưa ông?

- Theo kế hoạch, ngành phấn đấu tốc độ tăng trưởng khu vực I trong quý IV đạt 4,99%, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng cả năm 2026 đạt 4,07%. Để thực hiện mục tiêu này, ngành xác định trọng tâm là duy trì ổn định sản xuất trồng trọt, phát huy đà tăng trưởng của thủy sản, kiểm soát tốt dịch bệnh trong chăn nuôi và nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất.

Để nông nghiệp tỉnh phát triển bền vững trong giai đoạn tới, vấn đề cốt lõi là chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Chúng ta không chỉ quan tâm đến sản lượng mà phải chú trọng chất lượng, giá trị gia tăng, hiệu quả kinh tế, khả năng cạnh tranh và lợi ích của người nông dân. Trên tinh thần đó, ngành nông nghiệp và môi trường tập trung vào 4 nhóm giải pháp trọng tâm, đó là:

Thứ nhất, nâng cao giá trị nông sản thông qua chất lượng, công nghệ và chế biến sâu. Tiếp tục cơ cấu lại sản xuất theo lợi thế của từng vùng sinh thái, tập trung phát triển các ngành hàng chủ lực như lúa gạo, dừa, bưởi, chôm chôm, sầu riêng và các sản phẩm thủy sản. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ giới hóa, công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch; khuyến khích sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, thực hành nông nghiệp tốt và hướng hữu cơ phù hợp với điều kiện thực tế. Tăng cường xây dựng, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc và phát triển thương hiệu nông sản; gắn phát triển sản phẩm OCOP với xây dựng chuỗi giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Liên kết sản xuất, tiêu thụ dừa chặt chẽ giữa hợp tác xã và Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre (Betrimex).

Ảnh: CẨM TRÚC
Liên kết sản xuất, tiêu thụ dừa chặt chẽ giữa hợp tác xã và Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre (Betrimex). Ảnh: CẨM TRÚC

Thứ hai, tạo chuyển biến trong liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản. Ngành tiếp tục củng cố, nâng cao năng lực hoạt động của hợp tác xã, tổ hợp tác; khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư vùng nguyên liệu, cung ứng vật tư, chuyển giao kỹ thuật, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Trọng tâm là phát triển chuỗi giá trị cho những ngành hàng có lợi thế như dừa, bưởi da xanh, chôm chôm, nhãn, sầu riêng, cây giống - hoa kiểng, chăn nuôi và tôm.

Thứ ba, xác định thủy sản giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế khu vực I. Ngành tập trung phát triển đối tượng nuôi có lợi thế, nhất là tôm nước lợ, tôm thẻ chân trắng, cá tra và mô hình nuôi kết hợp phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng. Định hướng đột phá là chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng và hiệu quả trên từng đơn vị diện tích nuôi. Đối với khai thác thủy sản, ngành tiếp tục tăng cường quản lý tàu cá, giám sát hành trình, kiểm soát hoạt động khai thác và thực hiện nghiêm các quy định về chống khai thác IUU. Bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản, nâng cao nhận thức của ngư dân và từng bước phát triển khai thác gắn với bảo tồn tài nguyên biển.

Thứ tư, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển nông nghiệp xanh và bền vững. Ngành tăng cường theo dõi, dự báo khí tượng, thủy văn; chủ động điều tiết, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất; rà soát các khu vực có nguy cơ hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng và sạt lở để có giải pháp ứng phó phù hợp. Ngành tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo điều kiện sinh thái; khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm, áp dụng quy trình sản xuất giảm phát thải, quản lý tốt phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, phát triển sản xuất hữu cơ và kinh tế tuần hoàn. Đặc biệt, việc nhân rộng mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp; đầu tư, nâng cấp các công trình thủy lợi, công trình phòng, chống sạt lở và tăng cường bảo vệ, phục hồi rừng, nhất là rừng phòng hộ ven biển.

* Xin cảm ơn PGS.TS Lâm Văn Tân!

CẨM TRÚC (thực hiện)

 

 

 

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh