Theo chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 24/10, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, nghe trình bày tờ trình và báo cáo thẩm tra về các dự án: Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Sau đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về các dự án: Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
![]() |
| Đại biểu Trần Quốc Tuấn phát biểu thảo luận. |
Tham gia phát biểu thảo luận tại Tổ 15, Đại biểu Quốc hội Trần Quốc Tuấn (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) đã đóng góp hàng loạt ý kiến chuyên sâu và giàu tính thực tiễn đối với dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Xuất phát từ tầm nhìn chiến lược về an ninh năng lượng quốc gia và những điểm nghẽn thực tế khiến nhà đầu tư mất hàng năm trời chờ đợi, đại biểu đã kiến nghị những giải pháp lập pháp đột phá nhằm liên thông thủ tục, tháo gỡ ách tắc cho các dự án năng lượng tái tạo tích hợp đất liền và khu vực biển, biến tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Thứ nhất, về phát triển năng lượng tái tạo: Động lực tự chủ an ninh năng lượng và nền kinh tế xanh của một quốc gia cường thịnh
Đại biểu thống nhất cao với sự cần thiết sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để khắc phục tình trạng chồng chéo, hoàn thiện cơ chế quản lý và khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế, đại biểu Trần Quốc Tuấn đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng sinh tử của năng lượng tái tạo:
Lợi thế cạnh tranh giúp quốc gia cường thịnh: Việt Nam có tiềm năng năng lượng tái tạo rất lớn. Năng lượng tái tạo hoàn toàn không phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch hay chiến sự quốc tế. Bất kỳ quốc gia nào tự chủ về năng lượng, nếu phát triển đúng hướng sớm trở thành quốc gia cường thịnh.
Xu hướng xanh hóa và yêu cầu hạ tầng điện cho kỷ nguyên số: Năng lượng tái tạo là nguồn điện xanh để sản xuất xanh, kinh tế xanh và xuất khẩu xanh theo tiêu chuẩn toàn cầu. Đặc biệt, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số và phục vụ các trung tâm dữ liệu lớn (data center). Trong bối cảnh đó, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu triển khai khẩn trương các giải pháp bảo đảm cung ứng đủ điện giai đoạn 2027 - 2030, việc hoàn thiện pháp luật, đẩy nhanh thủ tục đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư là cần thiết.
Thứ hai, đại biểu quan tâm bốn nhóm giải pháp lập pháp đột phá tháo gỡ ách tắc dự án năng lượng tái tạo tích hợp Đất - Biển
Liên thông hồ sơ, không nhập nhằng thẩm quyền
Đối với khoản 11 Điều 24 của dự thảo, đại biểu đề nghị Luật quy định nguyên tắc liên thông cho dự án sử dụng đồng thời đất và khu vực biển: có đầu mối điều phối hồ sơ; dùng chung, tái sử dụng dữ liệu; phối hợp thẩm định song song những nội dung không phụ thuộc lẫn nhau; công khai cơ quan chủ trì, thời hạn xử lý và trách nhiệm phản hồi.
Theo đại biểu, liên thông có thể giảm thời gian chờ và chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, cơ chế này không được làm thay đổi thẩm quyền của từng cơ quan, miễn các giấy phép chuyên ngành hoặc hạ thấp yêu cầu về môi trường, quốc phòng, an ninh và an toàn hàng hải. Việc quá hạn xử lý cũng không đồng nghĩa hồ sơ mặc nhiên được chấp thuận.
Làm rõ đấu giá khu vực biển trong dự án tích hợp
Về điểm đ khoản 3 Điều 27, đại biểu đề nghị dự thảo làm rõ trường hợp không đấu giá quyền sử dụng khu vực biển đối với dự án tích hợp đất liền và biển. Việc lựa chọn nhà đầu tư và việc xác lập quyền sử dụng khu vực biển là hai thủ tục khác nhau, cần được quy định rõ để tránh vừa trùng lặp thủ tục, vừa bỏ qua yêu cầu cạnh tranh khi pháp luật quy định.
Đại biểu đề nghị chỉ xem xét ngoại lệ không đấu giá trong phạm vi khu vực biển cụ thể khi pháp luật cho phép và hồ sơ, quyết định ban đầu đã thể hiện rõ dự án có hạng mục trên khu vực biển, gồm vị trí, ranh giới, tọa độ và mối liên hệ với phần đất liền. Nếu quyết định ban đầu chỉ bao quát phần đất hoặc hồ sơ chưa xác định khu vực biển, thì phần khu vực biển vẫn phải thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về giao khu vực biển.
Nghị quyết số 254/2025/QH15 quy định cơ chế tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai. Theo ý kiến góp ý, cơ chế về đất tại Nghị quyết không nên được hiểu là căn cứ đương nhiên miễn đấu giá khu vực biển. Nhà đầu tư vẫn phải hoàn tất thủ tục giao, cho thuê hoặc đăng ký sử dụng khu vực biển theo quy định của pháp luật, thực hiện nghĩa vụ tài chính và đáp ứng yêu cầu về quy hoạch, môi trường, quốc phòng, an ninh, hàng hải, bảo tồn và thủy sản.
Tiêu chí “tiếp giáp” khu vực biển phải rõ, tránh mở rộng ưu đãi khi chưa có đủ căn cứ pháp lý.
Đối với điểm i khoản 1 Điều 41, đại biểu đồng tình với việc xem xét ưu đãi, hỗ trợ cho các khu vực biển, ven biển còn khó khăn, thiếu hạ tầng. Tuy nhiên, dự thảo cần làm rõ tiêu chí “khu vực biển tiếp giáp địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn”.
Việc xác định nên dựa trên tọa độ, ranh giới, quy hoạch và mối liên hệ trực tiếp về công năng, kỹ thuật giữa hạng mục trên khu vực biển với phần đất liền thuộc cùng dự án. Hồ sơ cần thể hiện riêng phạm vi đất, phạm vi khu vực biển và các hạng mục công trình. Đại biểu lưu ý không nên chỉ căn cứ vào một phần đất nhỏ hoặc hạng mục phụ ở địa bàn khó khăn hay đặc biệt khó khăn để mở rộng ưu đãi cho toàn bộ khu vực biển cho dự án
Đại biểu cũng đề nghị tách các nhóm dự án đang được quy định chung tại điểm i, khoản 1, Điều 41, thành các ý riêng, để mỗi nhóm có tiêu chí và chính sách áp dụng rõ ràng. Việc được xem xét ưu đãi, hỗ trợ không đồng nghĩa với việc nhà đầu tư đương nhiên có quyền sử dụng khu vực biển hoặc được miễn thủ tục giao, cho thuê hay đăng ký sử dụng biển.
Chuyển tiếp có điều kiện, bảo vệ quyền lợi cộng đồng ngư dân vùng dự án.
Về Điều 75, đại biểu đề nghị quy định việc kế thừa hồ sơ, kết quả khảo sát và quyết định đã được cấp hợp pháp, còn hiệu lực, nếu phạm vi dự án không thay đổi và vẫn đáp ứng yêu cầu pháp luật. Nếu có thay đổi, việc bổ sung hồ sơ nên tập trung vào nội dung bị ảnh hưởng.
Quy định chuyển tiếp không được hợp thức hóa vi phạm hoặc thay thế quyết định sử dụng khu vực biển. Đại biểu đồng thời đề nghị công khai thông tin và bản đồ tọa độ dự án; tham vấn cộng đồng chịu ảnh hưởng, nhất là người làm nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ, hải sản; xem xét năng lực nhà đầu tư; gắn việc sử dụng khu vực biển với tiến độ và trách nhiệm phục hồi môi trường. Các yêu cầu này cần được quy định thống nhất với pháp luật về môi trường và pháp luật chuyên ngành, tránh tạo thêm thủ tục trùng lặp.
Các kiến nghị cũng nhấn mạnh sự cần thiết rà soát đồng bộ với pháp luật về đất đai, đầu tư, đấu thầu và điện lực. Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo cần tập trung quy định việc quản lý, phân bổ và sử dụng khu vực biển; không thay thế các thủ tục về đấu nối, truyền tải, giá điện hay hợp đồng mua bán điện.
Mục tiêu cuối cùng của việc sửa luật là tháo gỡ đúng vướng mắc, giảm thời gian và chi phí để vốn tư nhân sớm được đưa vào các dự án năng lượng tái tạo, giúp Việt Nam tự chủ về nguồn năng lượng sạch. Quy định rõ ràng cũng giúp Nhà nước quản lý hiệu quả không gian biển, người dân bảo vệ được sinh kế và quyền tiếp cận khu vực biển, còn doanh nghiệp có cơ sở pháp lý ổn định để đầu tư. Đây có thể là một động lực quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và tạo thêm dư địa tăng trưởng cho Vĩnh Long nói riêng và cả nước nói chung.
HỒNG YẾN


