Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế là chủ trương, định hướng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong suốt quá trình đổi mới và phát triển đất nước.
Đặc biệt, Đại hội XIII đã xác định:“Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo” là một trong ba đột phá chiến lược.
ĐỘT PHÁ TỪ BÊN TRONG BỘ MÁY
Trong 5 năm qua, những đột phá về chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam được thể hiện rõ nét trên cả ba phương diện: tư duy chiến lược, thể chế – chính sách và thực tiễn vận hành. Đặc biệt, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không còn dừng ở mục tiêu định hướng, mà đã được cụ thể hóa, tổ chức thực hiện một cách bài bản và quyết liệt.
Đột phá ấy bắt đầu từ chính đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức – lực lượng trực tiếp vận hành bộ máy, tổ chức thực thi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bởi trong mọi mô hình phát triển, chất lượng quản trị quốc gia trước hết được quyết định bởi chất lượng nhân lực trong khu vực công.
![]() |
| Đảng, Nhà nước và đặc biệt là Chính phủ đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ, thực chất trong phát triển con người, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Phương Hoa - TTXVN |
Nhiệm kỳ Đại hội XIII ghi dấu sự thay đổi mạnh mẽ từ tư duy “quản lý con người” sang “quản trị nguồn nhân lực công hiện đại”. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không còn được nhìn nhận chủ yếu qua biên chế, thâm niên hay bằng cấp, mà được đánh giá bằng năng lực thực chất, hiệu quả công việc và mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển.
Tư duy “cán bộ là then chốt của then chốt”, từng được khẳng định trong các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã được cụ thể hóa mạnh mẽ bằng các quyết sách cải cách tổ chức bộ máy, cải cách chế độ công vụ và hoàn thiện thể chế về cán bộ, công chức, viên chức. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt trong các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV, khi yêu cầu nâng cao năng lực quản trị quốc gia được đặt ra ở tầm cao mới.
Trong 5 năm qua, khuôn khổ pháp lý về cán bộ, công chức, viên chức đã được điều chỉnh theo hướng mở hơn, linh hoạt hơn và cạnh tranh hơn. Luật Cán bộ, công chức năm 2025 là một dấu mốc quan trọng, khi lần đầu tiên thống nhất chế độ công vụ, liên thông cán bộ, công chức từ cấp xã đến cấp tỉnh, tạo ra một nền công vụ đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở.
Đây không chỉ là sự thay đổi về mặt tổ chức, mà là bước chuyển căn bản về tư duy quản trị: nền công vụ không còn bị chia cắt theo cấp hành chính, mà được tổ chức như một chỉnh thể thống nhất, phục vụ mục tiêu quản trị quốc gia hiện đại.
Theo ông Trần Anh Tuấn – nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ: “Đã là công chức, dù làm việc ở cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; làm ở Trung ương hay cấp tỉnh, cấp xã đều có nghĩa vụ và quyền lợi như nhau, cơ chế tuyển dụng và sử dụng như nhau.”
Một đột phá quan trọng khác là việc thể chế hóa chủ trương xóa bỏ tư duy “biên chế suốt đời”. Quản lý cán bộ, công chức, viên chức được chuyển mạnh từ ngạch, bậc sang vị trí việc làm, gắn chặt với yêu cầu nhiệm vụ và kết quả đầu ra.
Theo ĐBQH Phạm Văn Hòa – Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp: “Không có khái niệm, quan niệm công chức suốt đời. Trong quá trình thực hiện, làm tốt thì được phát huy và bố trí việc làm theo năng lực, sở trường, năng lực công việc, chứ không phải mới vào làm nhân viên. Nếu làm được, có thể bố trí làm lãnh đạo. Đây là điểm mới so với trước đây.”
Cùng với đó, công tác đánh giá cán bộ, công chức cũng đang được đổi mới theo hướng định lượng, minh bạch, dựa trên vị trí việc làm và chỉ số hiệu quả công việc (KPI). Đây là tiền đề quan trọng để tiến tới trả lương theo vị trí, theo năng suất và theo mức độ cống hiến, tạo động lực thực chất cho đội ngũ trong khu vực công.
Theo ông Vũ Hải Nam – Vụ trưởng Vụ Tổ chức – Biên chế (Bộ Nội vụ), việc quản lý, sử dụng hệ thống vị trí việc làm là công cụ cơ bản để thay đổi toàn bộ cơ chế quản lý công chức, viên chức, từ khâu quản lý, sử dụng, đánh giá… kể cả kết quả đầu ra, tiền lương cũng được tính toán theo vị trí việc làm.
Còn theo TS. Phạm Mạnh Hùng – Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội, tại Hàn Quốc thực hiện từ năm 1961, Singapore từ năm 1960 và Trung Quốc từ năm 1985. Việc này phải gắn với lương, thưởng và thăng tiến. Có KPI mà chỉ mang tính hình thức, không gắn với lương, thưởng và thăng tiến thì không tạo được động lực.”
Không dừng lại ở đó, các chủ trương về thu hút, trọng dụng nhân tài đã được thể chế hóa với nhiều cơ chế mở: cho phép ký hợp đồng chuyên gia, sử dụng người tài từ khu vực ngoài nhà nước, kể cả với một số vị trí lãnh đạo, quản lý. Khu vực công chuyển dần từ “đóng kín” sang “mở cửa”, cạnh tranh công bằng, đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại.
Theo ông Lê Văn Tịnh – Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc: “Dự thảo Luật Viên chức sửa đổi tới đây phân cấp rất mạnh, tăng quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp. Đặc biệt, chúng tôi sẽ được tự chủ về tuyển viên chức, sử dụng lao động, xây dựng vị trí việc làm và bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong bệnh viện. Đây là bước đột phá để tăng tính tự chủ cho đơn vị sự nghiệp.”
Song song với cải cách thể chế, chuyển đổi số trong khu vực công cũng tạo ra những thay đổi mang tính cấu trúc: phương thức làm việc thay đổi, quy trình được rút gọn, tính minh bạch được nâng cao. Văn hóa công vụ từng bước chuyển sang hướng liêm chính – chuyên nghiệp – phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả.
Những thay đổi này đã góp phần nâng cao rõ rệt năng lực quản trị quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới, Việt Nam cần những đột phá mạnh mẽ hơn.
ĐỘT PHÁ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Nếu đột phá trong khu vực công nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, thì đột phá nguồn nhân lực chất lượng cao của toàn xã hội chính là yếu tố quyết định năng lực phát triển và sức cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đại hội XIII đã xác định rõ: ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho các lĩnh vực then chốt, trong đó có khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong những năm gần đây không chỉ thể hiện qua các chủ trương chung, mà còn được cụ thể hóa bằng những nghị quyết chuyên đề mang tính chiến lược, tạo nền tảng thể chế cho kỷ nguyên phát triển mới. Nổi bật là Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Lần đầu tiên, vấn đề nguồn nhân lực khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực số được coi là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực cạnh tranh và tự chủ chiến lược của nền kinh tế. Nghị quyết được ví như “Khoán 10” trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Có thể nói, Nghị quyết 57 là “Nghị quyết giải phóng tư duy khoa học”, “cởi trói, phá rào” để thúc đẩy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vượt bậc. Đây không phải là khẩu hiệu chính trị, mà là chương trình hành động thực tế để Việt Nam cất cánh; là “chìa khóa vàng”, yếu tố sống còn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và nguy cơ tụt hậu, hiện thực hóa khát vọng hùng cường, thịnh vượng của dân tộc.
Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy “phát triển khoa học – công nghệ để có tăng trưởng” sang “phát triển con người để làm chủ khoa học – công nghệ”. Đặc biệt, sự ra đời của Luật Trí tuệ nhân tạo cho thấy bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy và cách tiếp cận “quản lý để phát triển”, thử nghiệm có kiểm soát, tạo nền tảng để Việt Nam chủ động phát triển AI, giảm phụ thuộc bên ngoài.
Từ Nghị quyết 57-NQ/TW đến các chủ trương xây dựng hành lang pháp lý cho công nghệ mới đều có điểm chung xuyên suốt: con người là trung tâm của mọi đột phá. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không còn là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục hay khoa học – công nghệ, mà là chiến lược tổng thể của cả hệ thống chính trị.
Theo PGS.TS. Phạm Bảo Sơn – Phó Giám đốc ĐHQG Hà Nội: “Mô hình ‘3 nhà’ đã triển khai từ lâu, nhưng sau Nghị quyết 57, cách tiếp cận có sự thay đổi. Trước đây, nhà khoa học làm ra sản phẩm rồi đi tìm doanh nghiệp, tìm thị trường. Nay doanh nghiệp đặt hàng bài toán, nhà khoa học giải quyết. Chúng tôi thành lập công viên công nghệ đổi mới sáng tạo, đưa các viện nghiên cứu về, thí điểm nhiều chính sách mới để thu hút chuyên gia quốc tế.”
Khi nền công vụ được nâng tầm để tăng năng lực quản trị quốc gia, và nguồn nhân lực chất lượng cao của toàn xã hội được khơi thông để tăng năng lực phát triển, Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc để tự tin bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và tự cường.
| Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu thống nhất nhận thức và hành động; xác định phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trung ương gương mẫu hành động với chương trình hành động được quán triệt ngay; các cấp ủy, chính quyền cụ thể hóa bằng kế hoạch sát thực tiễn, lấy kết quả triển khai làm tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng. Làm tốt được khen thưởng, làm chậm hoặc sai phạm sẽ bị phê bình, xử lý; lãnh đạo yếu kém, thiếu trách nhiệm sẽ bị thay thế, không để đất nước lỡ cơ hội phát triển. |
PV



Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin