Công nghiệp tăng tốc, tạo động lực cho tăng trưởng

05:54, 15/10/2026

Trong 9 tháng năm 2026, kinh tế của tỉnh chuyển biến tích cực, trong đó sản xuất công nghiệp (CN) tiếp tục khẳng định vai trò động lực tăng trưởng. Chỉ số sản xuất CN tăng 11,35% so với cùng kỳ năm trước. Tỉnh xác định CN và năng lượng là động lực quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững.

Sản xuất tại Công ty TNHH Kyungshin Việt Nam. Ảnh: KHÁNH DUY
Sản xuất tại Công ty TNHH Kyungshin Việt Nam. Ảnh: KHÁNH DUY

Công nghiệp giữ vai trò chủ lực

Theo UBND tỉnh, chỉ số sản xuất CN (IIP) tháng 9/2026 tăng 1,11% so với tháng trước, quý III/2026 tăng 16,11% so cùng kỳ năm trước; 9 tháng, chỉ số IIP tăng 11,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 4,41%; CN chế biến, chế tạo tăng 10,2%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,52% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,92%.

Trong đó, ngành chế biến, chế tạo duy trì đà tăng trưởng, tháng 9 tăng 1,11% so với tháng trước; quý III tăng 11,16%; 9 tháng tăng 11,35% so với cùng kỳ năm trước. Ngành CN chế biến, chế tạo duy trì mức tăng trưởng khá nhờ thị trường tiêu thụ trong nước ổn định và đơn hàng xuất khẩu thuận lợi.

Theo UBND tỉnh, tình hình kinh tế của tỉnh trong quý III/2026 có nhiều chuyển biến tích cực, với tốc độ tăng trưởng được cải thiện rõ nét so với các quý trước. GRDP (theo giá so sánh 2020) của tỉnh trong quý III ước tăng 8,67% so với cùng kỳ; cụ thể: khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 3,91%, khu vực CN và xây dựng mức tăng 14,52% (riêng ngành CN tăng 16,92%), khu vực dịch vụ tăng 9,68%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 9,24%. Nhìn chung, động lực tăng trưởng chính của tăng trưởng kinh tế quý III dựa vào sự bứt phá của sản xuất CN.

Tính chung 9 tháng năm 2026, GRDP (theo giá so sánh 2020) ước tính tăng 7,32% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 3,71%, đóng góp 1,19 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng GRDP toàn tỉnh; khu vực CN và xây dựng tăng 9,72%, đóng góp 2,35 điểm phần trăm (riêng CN tăng 11,01%, đóng góp 2,27 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ tăng 8,58%, đóng góp 3,36 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,92%, đóng góp 0,42 điểm phần trăm.

Cơ cấu GRDP 9 tháng tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần khu vực nông, lâm, thủy sản và tăng dần khu vực CN - xây dựng và dịch vụ, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của tỉnh. Trong đó khu vực I chiếm 26,55%, giảm 3,16 điểm phần trăm so với cùng kỳ; khu vực II chiếm 29,87%, tăng 2,16 điểm phần trăm; khu vực III chiếm 38,82%, tăng 0,92 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,76%, tăng 0,07 điểm phần trăm.

Theo UBND tỉnh, ngành CN chế biến, chế tạo của tỉnh đã hình thành tương đối rõ nét. Khu kinh tế Định An và các khu công nghiệp thu hút 210 dự án thứ cấp, với tổng vốn đăng ký 81.096 tỷ đồng và hơn 4 tỷ USD, giải quyết việc làm cho 105.529 lao động.

Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh phát triển mạnh CN chế biến sâu nông sản, thủy sản, dừa; CN thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, dệt may - da giày, linh kiện điện - điện tử, bao bì, cơ khí và CN hỗ trợ. Việc liên kết chặt chẽ giữa vùng nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến, hệ thống cảng - logistics và thị trường xuất khẩu sẽ tạo điều kiện nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và tỷ lệ nội địa hóa.

Thời gian tới, tỉnh xác định CN và năng lượng là động lực quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững. Tập trung khai thác hiệu quả lợi thế sau sáp nhập; ưu tiên thu hút dự án CN công nghệ cao, chế biến sâu, CN hỗ trợ, sử dụng tiết kiệm năng lượng, hiệu quả và thân thiện với môi trường; nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng.

Đẩy nhanh phát triển nguồn và lưới điện đồng bộ, tháo gỡ vướng mắc về đất đai, khu vực biển, thủ tục đầu tư, đấu nối và giải tỏa công suất; từng bước đưa năng lượng trở thành ngành kinh tế có đóng góp ngày càng lớn, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng “2 con số” hướng tới phát triển xanh, hiện đại và bền vững.

Tận dụng các dư địa tăng trưởng mới

Tại buổi làm việc với đoàn công tác Bộ Công Thương, lãnh đạo Sở Tài chính cho rằng, so với mục tiêu tăng IIP 17,10% và tăng trưởng GRDP khu vực CN - xây dựng 14,86% của cả năm 2026, kết quả thực hiện những tháng đầu năm vẫn đặt ra yêu cầu phải tăng tốc mạnh trong các tháng còn lại.

Việc hoàn thành kế hoạch phụ thuộc vào khả năng duy trì đơn hàng xuất khẩu; khôi phục, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp chủ lực; tiến độ giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư và khởi công dự án mới; nhất là tiến độ vận hành thương mại của các dự án năng lượng có khả năng bổ sung sản lượng trong năm.

Tỉnh xác định công nghiệp và năng lượng là động lực quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững. Trong ảnh: Vận hành Trạm biến áp 110kV Thanh Tân, xã Tân Thành Bình. Ảnh: CẨM TRÚC
Tỉnh xác định công nghiệp và năng lượng là động lực quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững. Trong ảnh: Vận hành Trạm biến áp 110kV Thanh Tân, xã Tân Thành Bình. Ảnh: CẨM TRÚC

Để tạo thêm động lực tăng trưởng, tỉnh tập trung thực hiện 3 nhóm nhiệm vụ trọng tâm là: hỗ trợ đưa ít nhất 8 dự án CN chế biến, chế tạo mới đi vào hoạt động; tháo gỡ khó khăn cho 8 doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, nâng công suất và tiếp cận thị trường.

Đôn đốc 17 dự án đầu tư mới, với tổng vốn đăng ký 1.794 tỷ đồng và hơn 107 triệu USD, hoàn tất thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường để sớm khởi công và tạo năng lực sản xuất mới.

Tập trung tháo gỡ khó khăn về pháp lý, giải phóng mặt bằng, đấu nối và giải tỏa công suất để phấn đấu đưa 4 dự án năng lượng tái tạo, tổng công suất 254MW, với tổng vốn đầu tư gần 11.000 tỷ đồng vào vận hành thương mại theo tiến độ khả thi.

Trên cơ sở các yếu tố nêu trên, tỉnh xác định kịch bản IIP cả năm tăng khoảng 13-15% là khả thi nếu các nhóm nhiệm vụ được triển khai đồng bộ, quyết liệt và không phát sinh biến động lớn về thị trường, đơn hàng xuất khẩu hoặc tiến độ các dự án năng lượng.

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Trí Quang nhấn mạnh, tỉnh nhận thức rõ trách nhiệm và mục tiêu “tăng trưởng 2 con số” khu vực II (CN và xây dựng) trong quý III đạt 22,44% và quý IV phải đạt 22,84% (theo kịch bản CN phải đạt 22,85% và 22,63%). Theo đó, giao nhiệm vụ cho từng sở, ban, ngành cụ thể.

Sở Công Thương tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với 12 dự án năng lượng đang triển khai; phối hợp với các ngành hoàn thành xử lý vấn đề về thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng và đấu nối điện trước ngày 30/11.

Phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư và đơn vị liên quan để đưa vào vận hành thương mại 6 dự án năng lượng theo kế hoạch năm 2026, bổ sung nguồn cung điện phục vụ sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt.

Tiếp tục duy trì và mở rộng năng lực sản xuất của ngành CN chế biến, chế tạo; phấn đấu có ít nhất 8 dự án CN chế biến, chế tạo mới đi vào hoạt động, bảo đảm chỉ số IIP năm 2026 tăng từ 15% trở lên so với năm 2025.

Về phát triển cụm CN và thu hút đầu tư, cần tập trung tháo gỡ triệt để khó khăn về đất đai, giải phóng mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật; nâng tỷ lệ lấp đầy cụm CN đang hoạt động từ 71,48% lên trên 75% vào cuối năm 2026. Chủ động phối hợp xúc tiến đầu tư hạ tầng ít nhất 1 cụm CN mới và thu hút tối thiểu 2 dự án đầu tư thứ cấp có khả năng triển khai thực tế ngay trong năm 2026.

Đối với Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, tích cực đồng hành, hỗ trợ 8 doanh nghiệp có kế hoạch nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng quy mô hoạt động nhằm đẩy nhanh tiến độ đưa các dây chuyền sản xuất mới vào vận hành.

Tập trung đôn đốc 17 dự án đầu tư mới (với tổng vốn đăng ký 1.794,86 tỷ đồng và 107,10 triệu USD) khẩn trương hoàn thiện thủ tục về đầu tư, xây dựng để triển khai dự án theo tiến độ đã cam kết, góp phần sớm tạo ra năng lực sản xuất mới cho tỉnh.

Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng, tích cực hỗ trợ nhà đầu tư triển khai dự án xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng tại các KCN Cổ Chiên, Cầu Quan, Ngũ Lạc, Đông Bình, Gilimex Vĩnh Long; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện điều kiện cần thiết để sớm đưa KCN Phú Thuận vào khai thác.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài cho biết, với vị trí và tiềm năng của mình, Vĩnh Long có nhiều điều kiện để phát triển mạnh hơn nữa các ngành CN gắn với lợi thế của vùng ĐBSCL; nhất là chế biến nông sản, thực phẩm, thủy sản, CN phục vụ nông nghiệp, CN hỗ trợ, năng lượng; đồng thời phát triển các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao, ứng dụng công nghệ và thân thiện với môi trường.

KHÁNH DUY

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh