Cần cơ chế tài chính phù hợp cho chuyển đổi xanh

05:41, 04/09/2026

Trước yêu cầu ngày càng cao về giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, chuyển đổi xanh (CĐX) đang trở thành hướng đi tất yếu. Để quá trình này đi vào thực chất, bên cạnh việc thay đổi công nghệ và phương thức sản xuất, bài toán quan trọng là tạo được cơ chế tài chính phù hợp, chia sẻ chi phí giữa nhà nước, doanh nghiệp (DN), tổ chức tín dụng và người sản xuất.

Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô ở Công ty TNHH MTV Phát Đặng (xã Song Lộc).
Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô ở Công ty TNHH MTV Phát Đặng (xã Song Lộc).

Nâng cao năng lực cạnh tranh từ chuyển đổi xanh

ĐBSCL có thế mạnh về lúa gạo, thủy sản, cây ăn trái và nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực, nhưng cũng là khu vực chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu. Trong khi đó, yêu cầu thị trường đang thay đổi nhanh, khi tiêu chí về giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường đang dần trở thành điều kiện tiên quyết để hàng hóa tham gia chuỗi cung ứng, nhất là thị trường xuất khẩu. Điều này đặt ra yêu cầu chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng xanh, bền vững hơn.

PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt- Chủ tịch Ban Điều hành Alumni ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh cho biết, ĐBSCL đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, gần 95% lượng gạo xuất khẩu, 65-70% sản lượng thủy sản và gần 70% sản lượng trái cây cả nước. Yêu cầu ngày càng cao của thị trường về giảm phát thải và trách nhiệm môi trường, xã hội vừa tạo sức ép, vừa mở ra cơ hội để vùng nâng giá trị nông sản và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Tại tỉnh, sản xuất hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao, quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc ngày càng được chú trọng. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 1 ngàn mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được cấp mã số; diện tích sản xuất hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao đạt hơn 81,4 ngàn ha.

Theo chuyên gia, CĐX không chỉ là đầu tư máy móc hay áp dụng quy trình kỹ thuật mới mà kéo theo thay đổi trong toàn bộ quá trình sản xuất. Đơn cử, với lúa phát thải thấp, nông dân phải điều chỉnh lượng giống, phân bón, quản lý nước, xử lý rơm rạ, ghi chép nhật ký đồng ruộng… Với cây ăn trái, cây dừa, việc duy trì mã số vùng trồng đòi hỏi kiểm soát thuốc BVTV, dư lượng, cập nhật dữ liệu và tuân thủ quy trình sản xuất.

Đi cùng những yêu cầu này là nhiều khoản chi phí, từ công nghệ, thiết bị đến chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, đào tạo, kiểm định, tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi. Trong khi đó, lợi ích về thị trường hay giá bán thường cần thời gian mới hình thành. Với đặc điểm sản xuất còn dựa nhiều vào nông hộ quy mô nhỏ, nếu phần lớn chi phí chuyển đổi dồn về người sản xuất, tiêu chuẩn xanh có thể trở thành rào cản tham gia thị trường.

Ông Văn Hữu Huệ- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, CĐX trong nông nghiệp là yêu cầu tất yếu trước tác động của biến đổi khí hậu, thay đổi của thị trường và xu hướng tài chính bền vững. Tuy nhiên, quá trình này sẽ khó đạt hiệu quả nếu chỉ được xem là yêu cầu kỹ thuật mà cần giải quyết bài toán phân bổ chi phí, rủi ro và lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị.

Tỉnh cần ưu tiên cơ chế chia sẻ chi phí, lấy nông hộ và HTX làm trung tâm tổ chức sản xuất, DN dẫn dắt chuỗi làm động lực thị trường, dữ liệu và tiêu chuẩn làm nền tảng quản trị, tài chính xanh làm công cụ huy động nguồn lực. Khi chi phí và rủi ro được phân bổ hợp lý, CĐX sẽ góp phần nâng chất lượng tăng trưởng nông nghiệp, cải thiện sinh kế và nâng vị thế nông sản ĐBSCL.

Khơi thông dòng vốn xanh

PGS.TS Bùi Quang Hùng- Giám đốc ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh cho rằng, ĐBSCL có nhiều tiềm năng nhưng tiềm năng không tự động trở thành năng lực cạnh tranh. Muốn chuyển đổi mô hình phát triển cần đầu tư và để nguồn lực tạo ra tác động hiệu quả cần có cơ chế tài chính phù hợp.

CĐX không đơn thuần là cần thêm vốn, quan trọng hơn là xác định vốn phải đi đâu, đến với ai, được phân bổ như thế nào, ai chia sẻ rủi ro, ai chịu chi phí ban đầu và làm thế nào đo lường tác động của nguồn vốn đối với môi trường, xã hội. Quá trình này cần sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, hệ thống tài chính, DN, người sản xuất và cơ sở đào tạo.

Công ty TNHH MTV Phát Đặng kiểm tra cây giống dừa sáp cấy phôi để cung cấp cho thị trường ở xã Song Lộc.
Công ty TNHH MTV Phát Đặng kiểm tra cây giống dừa sáp cấy phôi để cung cấp cho thị trường ở xã Song Lộc.

Theo PGS.TS Bùi Quang Hùng, Nhà nước cần tập trung vào những nền tảng mà từng nông hộ hay DN khó tự đầu tư như cơ sở dữ liệu, hạ tầng, đào tạo, khuyến nông, tiêu chuẩn và hỗ trợ tạo năng lực ban đầu. DN dẫn dắt chuỗi có thể cùng đầu tư vào vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và tiêu thụ sản phẩm. HTX trở thành đầu mối tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu và kết nối nông hộ với DN, ngân hàng.

Cùng với cơ chế chia sẻ chi phí, tín dụng xanh được xem là một kênh quan trọng để huy động nguồn lực xã hội cho quá trình chuyển đổi. Tuy nhiên, thực tế tiếp cận vốn của DN nhỏ và vừa vẫn còn những rào cản về thông tin, năng lực quản trị, hồ sơ và khả năng chứng minh hiệu quả môi trường của dự án.

Một nghiên cứu đối với DN nhỏ và vừa tại tỉnh cho thấy hỗ trợ từ chính quyền địa phương và kiến thức tài chính số là những yếu tố quan trọng giúp tháo gỡ rào cản thông tin trong tiếp cận vốn. Điều này cũng đặt ra yêu cầu DN phải nâng mức độ minh bạch và chứng minh thực chất yếu tố “xanh” trong phương án đầu tư.

TS Phạm Minh Trí- Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 14 cho rằng, để khơi thông dòng vốn tín dụng xanh phục vụ phát triển bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện khung quản lý rủi ro môi trường và xã hội, đồng thời thống nhất danh mục phân loại xanh. Đây là cơ sở để tổ chức tín dụng thiết kế sản phẩm phù hợp hơn với DN nhỏ và vừa, giảm rủi ro trong thẩm định và mở rộng khả năng tiếp cận vốn.

Ở cấp địa phương, việc xây dựng nền tảng dữ liệu xanh, kết nối thông tin về DN, HTX và dự án đáp ứng tiêu chuẩn môi trường cũng được xem là cần thiết. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, chia sẻ, tổ chức tín dụng có thêm cơ sở thẩm định, giảm bất cân xứng thông tin và rút ngắn quá trình tiếp cận vốn.

Về phía DN, cần chủ động số hóa quản trị tài chính, minh bạch dòng tiền, hoàn thiện hồ sơ môi trường và từng bước áp dụng tiêu chuẩn phù hợp. Xa hơn, CĐX cần được nhìn như quá trình tái cấu trúc cách phân bổ nguồn lực chứ không chỉ là đầu tư thêm cho những “mô hình xanh”.

Khi Nhà nước tạo nền tảng, ngân hàng có công cụ đánh giá phù hợp, DN đủ năng lực hấp thụ vốn, HTX tổ chức tốt vùng nguyên liệu và người sản xuất nhìn thấy lợi ích từ thay đổi phương thức sản xuất, dòng vốn mới có thể thực sự đi vào những mắt xích cần thiết.

Cơ chế tài chính phù hợp sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để yêu cầu CĐX trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh. Quan trọng hơn, quá trình ấy cần bảo đảm chi phí, rủi ro và lợi ích được chia sẻ hợp lý, để nông hộ, HTX và DN nhỏ không đứng ngoài tiến trình chuyển đổi, mà trở thành những chủ thể trực tiếp tham gia.

Bài, ảnh: THIỆN CHÍ
 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh