Sau khi tạo nền tảng tăng trưởng từ năng lượng xanh, tỉnh tiếp tục chuyển hóa lợi thế phát triển bằng việc đổi mới lĩnh vực nông nghiệp.
Từ cánh đồng lúa, vườn cây ăn trái đến vùng rau màu, việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số (CĐS) và kinh tế tuần hoàn từng bước thay đổi phương thức sản xuất, nâng giá trị nông sản, mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp.
![]() |
| Vườn rau thủy canh của anh Trần Thái Bảo tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương. |
Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung
Với thế mạnh về nông nghiệp, tỉnh xác định cơ cấu lại ngành nhằm tăng sản lượng, hướng đến tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng đơn vị diện tích. Vì vậy, quá trình chuyển đổi đang diễn ra đồng bộ từ quy hoạch vùng sản xuất, tổ chức chuỗi giá trị đến ứng dụng khoa học công nghệ và CĐS.
Ngành trồng trọt được cơ cấu lại theo hướng phát huy lợi thế từng tiểu vùng sinh thái. Giảm dần diện tích lúa kém hiệu quả, tăng cơ giới hóa đồng bộ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm giảm chi phí, nâng chất lượng và giá trị hạt gạo. Các loại cây trồng chủ lực như khoai lang, rau cải, dưa hấu, bí đỏ, đậu phộng… phát triển theo hướng an toàn, từng bước áp dụng quy trình VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Đối với cây ăn trái, tỉnh tiếp tục mở rộng các vùng sản xuất theo quy hoạch, gắn với cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu. Những cây trồng chủ lực như cam, bưởi, xoài, sầu riêng và dừa đang được phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu.
Theo Đề án số 04-ĐA/TU, ngày 15/7/2026 của Tỉnh ủy cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh giai đoạn 2025-2030, định hướng đến năm 2045, diện tích gieo trồng cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày của tỉnh đạt 133 ngàn ha và mở rộng hợp lý lên khoảng 145 ngàn ha vào năm 2045.
Cùng với xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, tỉnh ưu tiên phát triển chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ; mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao (CNC), CĐS trong quản lý sản xuất.
Đến nay, toàn tỉnh hình thành hơn 81,4 ngàn ha sản xuất nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng CNC; hơn 47 ngàn ha đạt các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và hữu cơ; trên 10 ngàn ha ứng dụng hệ thống tưới phun bán tự động. Nhiều mô hình nhà màng, thủy canh và sản xuất tuần hoàn bước đầu khẳng định hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng nông sản và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Những mô hình xanh
Chủ trương phát triển nông nghiệp xanh được hiện thực hóa bằng những mô hình sản xuất hiệu quả ngay tại cơ sở. Tại xã Song Lộc, nhiều nông dân đã thành công với mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng ứng dụng CNC, mở hướng cho vùng trồng màu.
Nông dân Huỳnh Sa Rây, ấp Hòa Lạc A (xã Song Lộc) đầu tư 1 nhà màng trên diện tích 1 công đất từ năm 2019. Sau 2 năm sản xuất hiệu quả, gia đình tiếp tục mở rộng lên 4 nhà màng.
Hàng tháng, ông cung ứng cho doanh nghiệp từ 1,8-2 tấn, lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng/năm. Theo ông Rây, chi phí đầu tư ban đầu khoảng 400 triệu đồng/ha, sau khoảng 3 năm có thể thu hồi vốn. Quan trọng hơn, hệ thống nhà màng giúp hạn chế tác động của thời tiết, giảm sâu bệnh, tiết kiệm vật tư, năng suất ổn định.
Theo Chủ tịch UBND xã Song Lộc Ngô Hồng Thanh, địa phương hiện có gần 1ha dưa lưới với 7 hộ tham gia tổ trồng màu CNC.
Các mô hình đều áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt tự động, bón phân qua nước và kiểm soát sâu bệnh theo hướng an toàn sinh học đạt năng suất khoảng 18 tấn/ha, sản xuất 3-4 vụ/năm, doanh thu đạt khoảng 300-400 triệu đồng/ha/năm.
Năm 2026, địa phương tiếp tục chuyển đổi khoảng 20ha đất sản xuất kém hiệu quả sang trồng dừa, dưa lưới và rau màu; tăng cường chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ giống và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
![]() |
| Mô hình trồng dưa lưới công nghệ cao của gia đình ông Huỳnh Sa Rây mang lại thu nhập cao, tạo việc làm ổn định cho lao động. |
Bên cạnh mô hình dưa lưới CNC ở Song Lộc, mô hình sản xuất rau sạch theo hướng tuần hoàn của anh Trần Thái Bảo (xã Châu Thành) đang trở thành điểm sáng trong ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.
Từ diện tích khoảng 1 ngàn m2 ban đầu, anh Bảo mạnh dạn xây dựng quy trình khép kín, tận dụng và tái sử dụng tối đa nguồn nguyên liệu. Việc kiểm soát tốt dinh dưỡng và môi trường sản xuất, năng suất tăng gấp đôi so với phương pháp truyền thống, tỷ lệ tuần hoàn đạt khoảng 99%, giảm chi phí sản xuất và hạn chế tác động đến môi trường.
Được tỉnh hỗ trợ xây dựng nhà màng và chứng nhận VietGAP theo Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND ngày 19/3/2021 của HĐND tỉnh, anh Bảo từng bước mở rộng quy mô lên 2 ngàn m2. Hiện mỗi tháng, anh cung ứng khoảng 6,5 tấn rau cho 12 siêu thị, với 7 sản phẩm đạt chứng nhận VietGAP và OCOP 3 sao, tạo việc làm thường xuyên cho 6 lao động.
Theo anh Bảo, sản xuất theo hướng tuần hoàn và an toàn, giúp giảm sử dụng hóa chất, kiểm soát chặt chẽ chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại, góp phần nâng cao giá trị nông sản và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Liên kết thị trường
Từ những mô hình cụ thể, nông nghiệp tỉnh đang chuyển từ tư duy sản xuất sang phát triển theo chuỗi giá trị, gắn chặt với nhu cầu thị trường.
Hiện khoảng 75% diện tích sản xuất của tỉnh được tổ chức thành vùng hàng hóa tập trung đối với lúa chất lượng cao, cây ăn trái, rau màu, chăn nuôi và thủy sản. Ngành hàng chủ lực được liên kết với doanh nghiệp, HTX và thị trường tiêu thụ; đẩy mạnh ứng dụng CNC, sản xuất hữu cơ, tưới tiết kiệm nước và giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cùng với tổ chức lại sản xuất, tỉnh chú trọng xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và phát triển thương hiệu nông sản. Theo ông Châu Văn Hòa- Phó Chủ tịch UBND tỉnh, đến nay toàn tỉnh đã cấp 936 mã số vùng trồng và 70 cơ sở đóng gói xuất khẩu, tạo nền tảng để nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu thị trường và mở rộng xuất khẩu.
CĐS đang hiện diện trong hầu hết các khâu sản xuất, từ quản lý mã số vùng trồng, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR đến hệ thống cảm biến môi trường, tưới thông minh và từng bước ứng dụng máy bay không người lái trong bón phân, phun thuốc. Nhờ đó, nông dân giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng và chủ động hơn trong quản lý sản xuất.
Để nâng cao giá trị nông sản, tỉnh tiếp tục đa dạng hóa thị trường tiêu thụ, thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ, phát triển thương mại điện tử, hỗ trợ sản phẩm OCOP và chuyển mạnh sang xuất khẩu chính ngạch.
Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, đăng ký nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm chủ lực; nghiên cứu hình thành trung tâm cung ứng nông sản gắn với dịch vụ logistics và triển khai Đề án thúc đẩy tiêu thụ, xuất khẩu nông sản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Những kết quả đạt được cho thấy nông nghiệp xanh góp phần đổi mới phương thức canh tác, hình thành hệ sinh thái sản xuất hiện đại, số hóa và gắn kết chặt chẽ với thị trường. Tư duy tăng trưởng xanh tiếp tục mở rộng sang lĩnh vực thủy sản, ngành kinh tế mũi nhọn của vùng ven biển và đang chuyển mình mạnh mẽ trước yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu.
(Còn tiếp)
Bài, ảnh: MỸ NHÂN




