Liên kết '3 nhà': Không để kết quả nghiên cứu loay hoay tìm đầu ra

15:29, 31/10/2026

Không thiếu những kết quả nghiên cứu có tiềm năng, cũng không thiếu doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ nhưng để hai phía gặp nhau, cùng đầu tư và đưa sản phẩm ra thị trường vẫn là khoảng trống cần khắc phục. Liên kết Nhà nước - doanh nghiệp - viện, trường vì thế không thể chỉ dừng ở những chương trình hợp tác hay bản ghi nhớ, mà phải bắt đầu từ bài toán thực tiễn và được đo bằng sản phẩm ứng dụng.

Các nhà khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong phòng thí nghiệm - Ảnh: chinhphu.vn
Các nhà khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong phòng thí nghiệm - Ảnh: chinhphu.vn

Từ nghiên cứu đến thị trường: Khoảng trống cần khắc phục
Theo số liệu của Bộ KH&CN, giai đoạn 2021–2025, cả nước triển khai 42 chương trình với khoảng 4.800 nhiệm vụ nghiên cứu, tổng kinh phí khoảng 17.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và đưa ra thị trường vẫn còn hạn chế. Trong tổng số 1.451 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, doanh nghiệp chỉ chủ trì 181 nhiệm vụ, chiếm 12,5% số nhiệm vụ và 25,7% tổng kinh phí.

Đáng chú ý, theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026 của WIPO, tỉ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp Việt Nam mới đạt khoảng 0,3% GDP, thấp hơn nhiều so với Singapore (1,3%), Trung Quốc (2,1%) và Hàn Quốc (4,2%).

Những con số này cho thấy doanh nghiệp vẫn chưa thực sự trở thành trung tâm của hoạt động đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, nếu thiếu sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khâu xác định bài toán, nhiều kết quả nghiên cứu có thể dừng lại ở phòng thí nghiệm, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc chưa tìm được thị trường tiếp nhận.

Theo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy, cần phân biệt hai nhóm doanh nghiệp trong hệ sinh thái công nghệ: Nhóm nghiên cứu, phát triển và cung cấp công nghệ và nhóm có nhu cầu sử dụng, ứng dụng công nghệ. Việc kết nối cả hai nhóm với các nhà khoa học là điều kiện quan trọng để hình thành những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và có khả năng thương mại hóa.

Đây cũng là lý do việc liên kết không thể chỉ bắt đầu bằng những cuộc gặp giữa lãnh đạo các đơn vị hay các bản ghi nhớ hợp tác. Điều cần thiết hơn là đưa bộ phận trực tiếp sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đến làm việc với nhà khoa học, cùng xác định vấn đề cần giải quyết, yêu cầu kỹ thuật, chi phí và khả năng ứng dụng.

Ông Bùi Thế Duy cho rằng nhà khoa học cần xuống doanh nghiệp, thậm chí trực tiếp làm việc như một kỹ sư, người lao động để hiểu quy trình sản xuất và những khó khăn đang đặt ra. Khi nắm được bài toán thực tế, nhà khoa học mới có cơ sở hình thành nhiệm vụ nghiên cứu chung, thay vì bắt đầu từ một đề tài có sẵn rồi mới tìm nơi ứng dụng.

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với thực tiễn ở nhiều doanh nghiệp. Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Ô tô Hiệp Hòa Đào Mạnh Hùng cho biết, doanh nghiệp đã phối hợp với Trường Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu, phát triển xe thang chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ trên cao tầm vươn 32 m và 56 m. Đây là những sản phẩm chuyên dùng có yêu cầu kỹ thuật cao, phục vụ nhu cầu cứu hộ, cứu nạn trong nước.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Hùng cho rằng sản xuất phải gắn với đầu ra. Doanh nghiệp có thể đầu tư máy móc, thiết bị, nhân lực và cùng nhà trường nghiên cứu sản phẩm, nhưng nếu không có đơn vị đặt hàng, không có thị trường tiếp nhận thì rất khó tiếp tục đầu tư. Đặc biệt, sản phẩm trong nước dù có khả năng đáp ứng yêu cầu nhưng vẫn gặp bất lợi khi các chủ đầu tư có xu hướng đánh giá cao thiết bị nhập khẩu.

Điều này cho thấy thị trường không phải khâu chờ đến khi nghiên cứu hoàn tất mới tính đến. Nhu cầu sử dụng, tiêu chuẩn kỹ thuật, giá thành, khả năng bảo trì và phương án mua sắm cần được đặt ra ngay từ đầu, để định hướng nghiên cứu và giúp doanh nghiệp có cơ sở quyết định đầu tư.

Bộ KH&CN đề xuất đo lường kết quả liên kết bằng hệ thống 10 chỉ số, sử dụng dữ liệu sẵn có
Bộ KH&CN đề xuất đo lường kết quả liên kết bằng hệ thống 10 chỉ số, sử dụng dữ liệu sẵn có

Ba nhà phải có vai trò rõ ràng, cùng chịu trách nhiệm về sản phẩm
Liên kết 3 nhà chỉ có thể vận hành hiệu quả khi mỗi chủ thể phát huy đúng thế mạnh và cùng hướng đến một mục tiêu chung.

Trên cơ sở đó, Viettel đã và đang hợp tác với nhiều học viện, viện nghiên cứu và trường đại học như Học viện Kỹ thuật Quân sự, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TPHCM và Đại học Bách khoa Hà Nội trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và công nghệ, cũng như chia sẻ cơ sở vật chất, hạ tầng thí nghiệm.

Theo đại diện Viettel, trong phát triển công nghệ, Nhà nước cần giữ vai trò định hướng, xác định nhu cầu và đặt hàng đầu ra; doanh nghiệp đảm nhiệm phát triển sản phẩm, thiết kế, tích hợp và hoàn thiện hệ thống; viện, trường tập trung nghiên cứu công nghệ thành phần, công nghệ nền, công nghệ lõi và đào tạo nhân lực.

Mô hình này đã được thể hiện trong một số lĩnh vực công nghệ cao. Viettel hiện tham gia 9/10 nhóm công nghệ chiến lược và 18/30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược được ưu tiên; đồng thời hợp tác với nhiều học viện, trường đại học trong nghiên cứu, đào tạo nhân lực và chia sẻ cơ sở thí nghiệm. 

Đối với những công nghệ chiến lược có yêu cầu đầu tư lớn, thời gian phát triển dài và liên tục thay đổi, sự phối hợp này càng có ý nghĩa. Doanh nghiệp có khả năng nhìn thấy nhu cầu sản phẩm, tổ chức tích hợp và đưa công nghệ vào vận hành; trong khi viện, trường có thế mạnh về nghiên cứu chuyên sâu, phát triển công nghệ nền tảng và cung cấp nguồn nhân lực.

Thực tế tại Viện Dầu khí Việt Nam cũng cho thấy hợp tác giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cụ thể khi gắn với yêu cầu sản xuất. Viện đã phối hợp với Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro phát triển hệ hóa phẩm tăng cường thu hồi dầu phù hợp với điều kiện mỏ Bạch Hổ. Sau 6 tháng bơm ép thử nghiệm 100 tấn hóa phẩm tại giàn BK-16, sản phẩm cho thấy tiềm năng áp dụng mở rộng.

Trong lĩnh vực thiết bị và tự động hóa, Viện cùng Vietsovpetro và Trường Đại học Bách khoa Hà Nội chế tạo thành công robot đáy biển mini AUV phục vụ khảo sát công trình biển ở độ sâu đến 100 m, làm chủ các khâu thiết kế, chế tạo và điều khiển. Ở lĩnh vực công nghệ số, Viện phát triển mô hình bản sao số bể Cửu Long trên diện tích hơn 12.000 km², tạo nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong thăm dò, khai thác dầu khí.

Riêng bốn sản phẩm, dịch vụ được thương mại hóa trong giai đoạn 2020-2025 đã mang lại doanh thu hơn 200 tỷ đồng cho Petrovietnam. Những kết quả này cho thấy nghiên cứu có thể tạo ra giá trị kinh tế khi được triển khai trong một chuỗi liên tục: Doanh nghiệp nêu bài toán, viện nghiên cứu phát triển giải pháp, sản phẩm được thử nghiệm trong điều kiện thực tế và tiếp tục hoàn thiện để đưa vào ứng dụng.

Một số mô hình khác cũng cho thấy hiệu quả của cách làm này như: Năm 2026, Viettel và Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã bàn giao, ứng dụng kết quả ba nhiệm vụ: Trợ lý lập trình CoDev, mô hình ngôn ngữ viễn thông TelcoLLM và nền tảng AI Platform. Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô phối hợp với Công ty Giấy Sông Đuống giúp giảm 10,8% điện năng tiêu thụ, tăng 5,09% tốc độ máy xeo.

Viện Nghiên cứu Cơ khí cùng các trường đại học và doanh nghiệp làm chủ thiết kế, chế tạo bảy hệ thống thiết bị phụ cho các tổ máy nhiệt điện than công suất khoảng 600 MW, được ứng dụng tại các nhà máy Sông Hậu 1, Thái Bình 1 và Nghi Sơn 2. Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long chuyển giao giống OM18, OM9577 cho Tập đoàn Lộc Trời, với mức chi trả 200 đồng/kg giống bán ra, qua đó gắn lợi ích của đơn vị nghiên cứu với kết quả tiêu thụ sản phẩm.

Các ví dụ này không chỉ chứng minh khả năng hợp tác, mà còn cho thấy điều kiện để liên kết có thể duy trì lâu dài: Doanh nghiệp phải có nhu cầu thực, có khả năng tiếp nhận và đầu tư; viện, trường phải giải quyết được yêu cầu cụ thể; kết quả nghiên cứu phải tiếp tục được hoàn thiện trong môi trường ứng dụng.

Việc liên kết 3 nhà là một yếu tố then chốt để đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn và từng bước làm chủ công nghệ - Ảnh: chinhphu.vn
Việc liên kết "3 nhà" là một yếu tố then chốt để đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn và từng bước làm chủ công nghệ - Ảnh: chinhphu.vn

Không thiếu chính sách, nhưng cần chuyển mạnh sang thực thi
Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay không hẳn là thiếu cơ chế, mà là các cơ chế đã có chưa được vận dụng đầy đủ và hiệu quả. Theo Bộ KH&CN, hệ thống chính sách về khoa học, công nghệ đã tương đối hoàn thiện, với nhiều quy định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nghiên cứu, chấp nhận rủi ro, đặt hàng, tài chính, tài sản công, chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ. Vấn đề trọng tâm là tổ chức thực hiện, khắc phục tâm lý e ngại, không dám làm.

Nhận định này cũng được Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy chia sẻ. Theo ông, nếu liên tục tập trung kiến nghị ban hành thêm văn bản mà các cơ chế hiện hành chưa được triển khai thì có thể dẫn đến tình trạng chính sách ngày càng nhiều nhưng việc thực hiện vẫn chậm.

Hai cơ chế cần sớm được vận hành thực chất là voucher và cấp kinh phí theo gói (block funding). Với voucher, Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng công nghệ thử nghiệm sản phẩm của doanh nghiệp công nghệ trong nước trong một khoảng thời gian, chẳng hạn 6 tháng. Cơ chế này vừa khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, vừa tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm được phát triển từ kết quả hợp tác giữa viện, trường và doanh nghiệp.

Trong khi đó, block funding cho phép cấp kinh phí dựa trên năng lực của tổ chức nghiên cứu và mục tiêu, kết quả đầu ra, thay vì thẩm định quá sâu từng nội dung chuyên môn của từng đề tài. Cách làm này tạo điều kiện để viện, trường chủ động hơn trong tổ chức nghiên cứu, đồng thời gắn quyền tự chủ với trách nhiệm về kết quả.

Ở góc độ doanh nghiệp, đại diện Viettel cũng đề xuất doanh nghiệp có thế mạnh được dẫn dắt một số chương trình công nghệ chiến lược; Nhà nước xác định ưu tiên, đặt hàng đầu ra và đầu tư cho nghiên cứu công nghệ nền, công nghệ lõi; doanh nghiệp phát triển sản phẩm, cung cấp môi trường thử nghiệm và thương mại hóa. Viettel đồng thời đề nghị sớm triển khai voucher để hỗ trợ thương mại hóa những sản phẩm đã sẵn sàng như thiết bị mạng 5G, camera AI và xử lý ảnh.

Bên cạnh cơ chế tài chính, vấn đề sở hữu trí tuệ và phân chia lợi ích cũng cần được giải quyết rõ ràng. Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Chu Hoàng Hà cho biết, Viện Hàn lâm từng thành lập nhiều doanh nghiệp spin-off vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990. Một số doanh nghiệp phát triển thành công, nhưng cũng có trường hợp viện bị mất cán bộ, mất công nghệ, thậm chí phải xử lý những hệ quả liên quan đến doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả.

Kinh nghiệm này cho thấy việc thúc đẩy thương mại hóa, hình thành doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) không thể chỉ dừng ở khuyến khích nhà khoa học khởi nghiệp. Cần có hướng dẫn cụ thể về định giá tài sản trí tuệ, quyền khai thác, chuyển giao công nghệ, trách nhiệm của tổ chức chủ trì và cơ chế phân chia lợi ích giữa viện, trường với nhà khoa học.

Một ví dụ được ông Chu Hoàng Hà đề cập là việc Viện Hàn lâm chuyển giao công nghệ cho Công ty Dược Thái Minh phát triển sản phẩm Khương Thảo Đan khá thành công. Sau bước chuyển giao ban đầu, doanh nghiệp tiếp tục phối hợp nghiên cứu, hoàn thiện sản phẩm và cam kết đầu tư phòng thí nghiệm chung với Trường Đại học USTH, trong khi Viện Hàn lâm tiếp tục tham gia nghiên cứu. Đây là cách hợp tác có khả năng tạo ra một chu trình tiếp nối, thay vì kết thúc ngay sau khi ký hợp đồng chuyển giao.

Phải có thị trường và thước đo cho liên kết 3 nhà
Muốn liên kết 3 nhà đi vào thực chất, thị trường cần được xem là một phần của quá trình nghiên cứu, chứ không phải khâu cuối cùng. Doanh nghiệp sẽ khó đầu tư nếu không nhìn thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm; viện, trường cũng khó duy trì nghiên cứu ứng dụng nếu kết quả không có nơi tiếp nhận.

Số liệu về thị trường công nghệ cho thấy khoảng cách này còn đáng kể. Đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch được tổng hợp có khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ chào bán trên một nhu cầu. Từ tháng 1 đến tháng 8/2026, các sàn ghi nhận 72 giao dịch thành công với tổng giá trị 11,233 tỷ đồng. Những con số trong phạm vi báo cáo này cho thấy hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ vẫn cần được cải thiện, từ khâu xác định nhu cầu đến tư vấn, định giá, chuyển giao và hỗ trợ ứng dụng.

Vai trò của Nhà nước vì thế không chỉ là cấp kinh phí cho nghiên cứu, mà còn là tạo lập môi trường để sản phẩm có cơ hội được thử nghiệm, chứng nhận và tiếp cận khách hàng. Với những sản phẩm phục vụ nhu cầu công, Nhà nước có thể đặt hàng, tổ chức thử nghiệm và xem xét ưu tiên sản phẩm trong nước khi đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên, việc mua sắm công phải xuất phát từ nhu cầu thực tế và tiêu chuẩn chất lượng, không thể trở thành cơ chế bao tiêu mọi sản phẩm nghiên cứu.

Trước tình hình đó, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã yêu cầu chuyển mạnh từ giao từng đề tài, nhiệm vụ sang giao nhiệm vụ theo gói, gắn quyền chủ động với trách nhiệm về sản phẩm đầu ra; không để tình trạng nghiệm thu xong nhưng kết quả không có nơi sử dụng. Năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp cụ thể, có sự tham gia hợp tác, cùng nghiên cứu và chia sẻ nguồn lực; phấn đấu nâng tỉ lệ này lên ít nhất 50% trong giai đoạn tiếp theo.

Cùng với đó, cần hình thành bản đồ năng lực nghiên cứu để doanh nghiệp tìm được cơ sở có thế mạnh phù hợp; phát triển các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia theo cơ chế mở, tạo điều kiện cho doanh nghiệp cùng khai thác; hỗ trợ hoàn thiện công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm, chứng nhận, sản xuất thử và kết nối thị trường.

Quan trọng không kém là phải thay đổi cách đánh giá hiệu quả liên kết. Số lượng biên bản ghi nhớ, hội thảo hay chương trình kết nối không thể phản ánh đầy đủ chất lượng hợp tác. Thước đo cần là số bài toán thực tiễn được giải quyết, số hợp đồng nghiên cứu và chuyển giao được triển khai, công nghệ được làm chủ, sản phẩm được ứng dụng và doanh nghiệp nâng cao năng suất, sức cạnh tranh.

Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ 

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh