Không ít ý tưởng sáng tạo của học sinh (HS) bắt đầu từ những điều rất gần gũi. Nhưng từ một phát hiện ban đầu đến sản phẩm hoàn chỉnh là một hành trình nhiều lần thử nghiệm và điều chỉnh. Ở đó, có những lần thử sai và sự đồng hành của thầy cô, gia đình.
![]() |
| “Bản đồ Việt Nam tương tác bằng giọng nói sau sáp nhập” đưa vào giảng dạy tại Trường THCS Vĩnh Thành. |
Tận dụng nguyên vật liệu quanh mình
Lớn lên trong gia đình có bà ngoại làm nghề đục tranh và tượng gỗ, Phạm Xuân Nhi, HS lớp 6/2, Trường THCS Châu Hòa sớm có niềm yêu thích với nghệ thuật tạo hình. Khi tìm ý tưởng cho sản phẩm dự thi, em bắt đầu từ những gì gần gũi nhất với mình. Đó là câu chuyện lịch sử của quê hương và những vật liệu tưởng chừng bỏ đi.
Xuân Nhi tận dụng phế phẩm là xơ dừa, gáo dừa, giấy vụn, ruột và vỏ lốp xe cũ để tạo nên bức tranh đắp nổi với chủ đề “Chiến thắng Cái Sơn, Vĩnh Long 1960”. Chia sẻ về ý tưởng của mình, Nhi nói: “Con chọn tranh về lịch sử vì con muốn giới thiệu về quê hương mình”.
Ban đầu, Nhi thử nhiều loại vật liệu khác nhau. Khi được thầy giáo gợi ý sử dụng vật liệu tái chế để gắn sản phẩm với ý thức bảo vệ môi trường, em bắt đầu tìm kiếm nguyên liệu ngay từ những thứ quanh mình. Giấy vở cũ được em nhặt từ sọt rác của lớp hoặc tận dụng những quyển vở đã viết hết ở nhà.
Những công đoạn cần đến máy móc, Nhi nhờ ba hỗ trợ bằng máy để tạo hình các nhân vật bộ đội. Còn phần đắp, dán, tạo hình và làm nền, em tự thực hiện. Để có nguyên liệu phù hợp, Nhi tự rửa sạch, xử lý, ngâm với nước vôi trong và phèn chua rồi phơi khô trước khi đưa vào tranh. Từ những vật liệu thô ráp, em từng bước tạo nên mảng hình, đường nét và độ nổi cho tác phẩm.
“Lúc làm lần đầu không đạt, em buồn lắm nhưng em không bỏ cuộc, em mang tranh đến trường nhờ thầy Ngô Quốc Trung- giáo viên Mỹ thuật, Trường THCS Châu Hòa hướng dẫn. Từ cách sắp xếp mảng hình đến việc đắp nền, em được thầy chỉ ra những điểm chưa hợp lý để tự điều chỉnh. “Sau lần đó, em hiểu rằng làm một sản phẩm không phải cứ làm xong là được, mà phải thử, thấy chưa tốt thì sửa và làm lại”, Nhi nói.
Theo thầy Ngô Quốc Trung phần lớn tác phẩm được Nhi thực hiện tại nhà, có khi em làm ban đêm. Người lớn chỉ hỗ trợ những công đoạn khó phải dùng máy móc; còn đắp, dán, tạo hình và làm nền đều do em tự thực hiện.
Với anh Phạm Văn Nhân, cha của Nhi, sự đồng hành cũng dừng ở những phần con cần hỗ trợ, còn ý tưởng, cách làm và hoàn thiện sản phẩm thì để con tự thực hiện. Tôi muốn con được tự mình làm ra sản phẩm từ chính ý tưởng của mình”, anh Nhân chia sẻ.
Với Nhi, bức tranh không chỉ là câu chuyện về tái chế mà còn là cách em kể về quê hương qua một lát cắt lịch sử. Những nhân vật bộ đội, màu khói lửa được tạo nên từ nhiều chất liệu khác nhau gợi lại sự khắc nghiệt của chiến tranh. Sau cùng lại là màu xanh trong bức tranh là màu của sự sống. Nhi chia sẻ: “Con mong muốn bức tranh sẽ nổi lên màu xanh của dòng sông và cây lá. Vì sau chiến tranh, con mong nhìn thấy màu xanh của hòa bình”.
Đưa bài học ra khỏi trang sách
Nếu với Xuân Nhi, ý tưởng bắt đầu từ câu chuyện quê hương, thì với Trần Ngọc Thanh Thảo, HS lớp 9/9, Trường THCS Vĩnh Thành, ý tưởng lại nảy sinh từ một bất tiện trong chính giờ học Địa lý. Từ việc sử dụng bản đồ giấy, Thanh Thảo nhận thấy đôi lúc khó xác định vị trí các tỉnh, sông hoặc khu vực cần tìm. Trong bối cảnh đơn vị hành chính có những thay đổi, em và bạn trong nhóm nghĩ đến việc làm một bản đồ có thể tương tác và phát thông tin bằng giọng nói.
![]() |
| Phạm Xuân Nhi, học sinh lớp 6/2 Trường THCS Châu Hòa trong quá trình làm sản phẩm tranh nổi “ Chiến thắng Cái Sơn, Vĩnh Long 1960”. |
Từ ý tưởng ban đầu, nhóm bắt đầu tìm hiểu cách làm một sản phẩm phù hợp với điều kiện và khả năng của mình. Các em tìm hiểu về mạch điện, bo mạch, cách lưu và phát âm thanh, đồng thời nhờ giáo viên hướng dẫn. Quá trình thực hiện không tránh khỏi những lần lỗi âm thanh, lắp bo mạch chưa đúng. Nhóm phải tìm hiểu lại, sửa từng bước và làm chậm để hạn chế sai sót.
Khi sản phẩm được đưa vào tiết học, sự tò mò của các bạn nhanh chóng chuyển thành hứng thú. Từ một tấm bản đồ lớn, HS được trực tiếp tìm vị trí, chạm vào nút và nghe thông tin về từng địa phương. Theo cô Trần Thị Thùy Linh, giáo viên môn Địa lý, Trường THCS Vĩnh Thành, sản phẩm “Bản đồ Việt Nam tương tác bằng giọng nói sau sáp nhập” không nhằm thay thế bản đồ giấy mà bổ sung khả năng tương tác. Nếu bản đồ truyền thống chủ yếu giúp HS quan sát thì sản phẩm kết hợp nhìn- chạm- nghe, tạo điều kiện để các em chủ động tìm vị trí, nghe thông tin và trao đổi trong quá trình học.
“Khi đưa sản phẩm vào tiết học, HS khá hào hứng và tò mò. Các em chủ động tìm vị trí, thử thao tác, nghe thông tin rồi trao đổi với nhau. Qua đó, bản đồ không chỉ là phương tiện minh họa mà trở thành công cụ để tổ chức hoạt động học tập”, cô Thùy Linh cho hay.
Để ý tưởng “đơm hoa kết trái”
Từ những câu chuyện thực tế tại các nhà trường, có thể thấy khi HS được khuyến khích quan sát và tìm cách giải quyết vấn đề quanh mình, hoạt động sáng tạo sẽ dần trở thành một phần tự nhiên của quá trình học tập. Tuy nhiên, từ ý tưởng phác thảo đến một sản phẩm hoàn thiện có khả năng ứng dụng là một chặng đường khá dài với nhiều gặp ghềnh. Ở đó, giá trị lớn nhất không chỉ nằm ở sản phẩm cuối cùng, mà nằm ở tinh thần và bản lĩnh vượt qua những lần thử nghiệm chưa thành công của các em.
Theo Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Trịnh Văn Ngoãn- Phó Trưởng BTC cuộc thi sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh lần I, bên cạnh nỗ lực tự hoàn thiện của HS, rất cần sự đồng hành của nhà trường, BTC và các ngành chức năng. Sự tiếp sức đồng bộ và âm thầm của nhà trường, giáo viên và phụ huynh là “nguồn dinh dưỡng” quan trọng để các “hạt giống sáng tạo” tiếp tục nảy mầm và đơm hoa kết trái trong đời thực.
(Còn tiếp)
Bài, ảnh: PHAN HÂN




