Sửa đổi Luật Đất đai: Phải phục vụ thiết thực cho các mục tiêu phát triển

20:58, 22/10/2026

Nhiều ý kiến Đại biểu Quốc hội cho rằng việc sửa đổi Luật Đất đai lần này phải tháo gỡ được những điểm “nghẽn” hiện nay, phục vụ thiết thực cho các mục tiêu phát triển và kết quả phát triển phải nâng cao chất lượng sống của người dân.

Tổ 4 (các đoàn Đại biểu Quốc hội: Đồng Nai, Quảng Trị, Điện Biên) thảo luận - Ảnh: chinhphu.vn/Nguyễn Hoàng
Tổ 4 (các đoàn Đại biểu Quốc hội: Đồng Nai, Quảng Trị, Điện Biên) thảo luận - Ảnh: chinhphu.vn/Nguyễn Hoàng

Sáng nay (22/10), Quốc hội thảo luận ở Tổ về dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

Cơ bản các ý kiến nhất trí với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) trình kỳ họp lần này của Quốc hội; cho rằng dự thảo Luật thể hiện rõ quan điểm lấy người dân làm trung tâm, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm đời sống dân sinh.

Làm rõ khái niệm về các loại đất

Dẫn câu hỏi cụ thể của cử tri: "Mảnh vườn ghi trong ‘bìa đỏ’ của gia đình nay thuộc loại đất gì?", Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hà (Quảng Trị) nhấn mạnh: "Đất trồng cây lâu năm" hay còn gọi là đất vườn theo thói quen trong khu dân cư, gắn liền hoặc liền kề với đất ở, là một phần không tách rời của nơi ở; là mảnh vườn ông cha khai phá, con cháu nhiều đời sử dụng, thừa kế; là chỗ dựa sinh kế và là quỹ đất để dành làm nhà cho con cái khi lập gia đình. Ở nông thôn, ngôi nhà, mảnh vườn, ao cá gắn với nếp nhà, gia phong của mỗi gia đình, dòng họ. Vì vậy, cần phân biệt rõ với "đất trồng cây lâu năm" như đất trồng cà phê, cao su, chè, điều... Nếu áp dụng chung một chế độ, người dân sẽ chịu thiệt cả về thời hạn sử dụng, giá trị bồi thường lẫn quyền thừa kế, tặng, cho trong gia đình.

Về phân loại đất, tại Điều 9, Dự thảo gộp nhóm đất nông nghiệp (tại Khoản 1) còn ba loại: Đất canh tác (gồm đất trồng lúa và đất trồng cây khác); đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp khác. Như vậy, đất vườn - loại đất đang được ghi là "đất trồng cây lâu năm" trên rất nhiều Giấy chứng nhận, nhất là phần vườn trong cùng thửa hoặc liền kề với đất ở của các hộ gia đình nông thôn nay lại nằm chung trong nhóm đất trồng cây khác, hoặc đất nông nghiệp khác (điều này gây khó hiểu và khó khăn khi chuyển đổi sang đất ở).

Trong Điều 3, dự thảo Luật cũng chưa giải thích từ ngữ khái niệm "đất trồng cây khác"; "đất nông nghiệp khác" và "đất phi nông nghiệp khác"; như vậy, loại đất "khác" này sẽ chứa tất cả những loại đất chưa được gọi tên, mỗi địa phương có thể hiểu khác nhau.

Từ lập luận nêu trên, Đại biểu Nguyễn Ngọc Hà đề nghị bổ sung vào Điều 3 giải thích các khái niệm đất canh tác, "đất trồng cây khác", "đất nông nghiệp khác", "đất phi nông nghiệp khác" theo phương pháp liệt kê, kèm nguyên tắc: Loại đất "khác" chỉ áp dụng khi thửa đất không thuộc loại đất nào đã được gọi tên để văn bản dưới luật không được mở rộng nội hàm.

Đồng thời bổ sung tên gọi cho loại đất mà theo Luật hiện hành được ghi là "đất trồng cây lâu năm" cùng thửa, liền thửa với đất ở, để phân biệt với đất trồng cây lâu năm như đất trồng cà phê, cao su, chè, điều…

Đại biểu đề nghị có quy định riêng đối với đất vườn, ao trong cùng thửa hoặc liền kề với đất ở trong khu dân cư theo hướng: Được sử dụng ổn định lâu dài như đất ở, không áp thời hạn như đất nông nghiệp giao cho cá nhân; được thừa kế, tặng cho, tách thửa cho con cháu trong gia đình thuận lợi; được chuyển mục đích sang đất ở với điều kiện đơn giản, nghĩa vụ tài chính hợp lý, nhất là khi tách thửa làm nhà cho con cái; khi Nhà nước thu hồi được bồi thường, hỗ trợ tương xứng với giá trị thực tế, không áp giá như đất sản xuất thông thường.

"Thiết nghĩ, một đạo luật đi vào cuộc sống không chỉ dừng lại ở việc giảm từ 16 chương, 260 điều xuống còn 13 chương, 112 điều, mà phải sáng rõ hơn, dễ hiểu, dễ áp dụng; nếu lược bỏ để rồi tạo ra cách hiểu tùy nghi thì sẽ rất khó thực hiện", Đại biểu Nguyễn Ngọc Hà nêu quan điểm.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hà (Quảng Trị) phát biểu tại thảo luận Tổ
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hà (Quảng Trị) phát biểu tại thảo luận Tổ

Về vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh, Đại biểu Nguyễn Ngọc Hà nhấn mạnh, đất đai gắn liền với chủ quyền lãnh thổ, là nền tảng vật chất để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Mỗi tỉnh, thành phố là một khu vực phòng thủ vững chắc; thế trận đó chỉ có được khi có quỹ đất bố trí căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần - kỹ thuật, công trình phòng thủ, thao trường, trường bắn cho lực lượng vũ trang địa phương và dân quân tự vệ.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, thế trận phòng thủ ở nhiều địa phương đang được điều chỉnh. Vì vậy, nhu cầu đất quốc phòng, an ninh cần được bảo đảm ngay từ khâu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nếu buông lỏng, đất quốc phòng dễ bị chuyển đổi, lấn chiếm, xen kẹt với dự án kinh tế, phá vỡ thế trận đã dày công xây dựng.

Về "khu vực hạn chế tiếp cận đất đai" tại khoản 3 Điều 22 đang giao hoàn toàn cho Chính phủ, Đại biểu đề nghị Luật quy định nguyên tắc xác định, gồm khu vực biên giới, ven biển, hải đảo, xung quanh công trình quốc phòng, khu quân sự, địa bàn trọng yếu và bắt buộc có ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an khi tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận quyền sử dụng đất tại các khu vực này. Đồng thời, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai cần có quy định bảo mật đối với dữ liệu đất quốc phòng, an ninh.

Để nguồn lực đất đai thực sự trở thành động lực cho phát triển đất nước

Nhấn mạnh đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là không gian sinh tồn và phát triển, là yếu tố cấu thành chủ quyền lãnh thổ, đồng thời là tư liệu sản xuất đặc biệt và nguồn lực hết sức quan trọng cho phát triển đất nước, Đại biểu Quốc hội Lê Nữ Thuỳ Dương (Đồng Nai), tán thành và đánh giá cao Tờ trình và Dự thảo của Chính phủ đã bám sát chỉ đạo và chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, thể hiện quyết tâm rất mạnh mẽ trong đổi mới tư duy quản lý đất đai, tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế và đưa nguồn lực đất đai thực sự trở thành một động lực quan trọng cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Về lựa chọn nhà đầu tư theo bộ tiêu chí năng lực, Đại biểu cho rằng cần đổi mới cơ chế lựa chọn nhà đầu tư theo bộ tiêu chí năng lực; nhấn mạnh đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, kho bãi, logistics và các dự án mà nhà đầu tư tự thoả thuận bồi thường, việc áp dụng đấu giá là chưa thật sự phù hợp. Ở nhóm dự án này, chi phí tạo lập quỹ đất không sử dụng ngân sách nhà nước; đồng thời yếu tố quyết định hiệu quả dự án là năng lực chuyên môn, năng lực tài chính và khả năng triển khai của nhà đầu tư mà không phải mức giá trả cao nhất.

Do đó, Đại biểu đề nghị bổ sung quy định trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu mà lựa chọn nhà đầu tư theo bộ tiêu chí năng lực do Nhà nước ban hành, áp dụng cho các trường hợp nêu trên. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền ban hành bộ tiêu chí về năng lực tài chính, kinh nghiệm, công nghệ, tiến độ và cam kết triển khai; nhà đầu tư đáp ứng đủ tiêu chí mới được xem xét giao đất, cho thuê đất. Trường hợp có từ hai nhà đầu tư trở lên cùng đáp ứng thì chấm điểm theo thang điểm đã công bố và lựa chọn nhà đầu tư đạt điểm cao hơn.

Cùng với đó, Đại biểu đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc chứng minh năng lực tài chính và chế tài thu hồi đất nếu không triển khai đúng cam kết hoặc chậm tiến độ, bảo đảm hiệu quả trong việc thực hiện.

Về công cụ thuế đối với đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng, Đại biểu tán thành định hướng nghiên cứu sử dụng chính sách thuế như một công cụ để khuyến khích đưa đất vào khai thác hiệu quả, hạn chế tình trạng đầu cơ, tích trữ hoặc để đất hoang hóa kéo dài; góp phần điều chỉnh hành vi sử dụng đất theo hướng tiết kiệm, hiệu quả và phù hợp hơn với mục tiêu phát triển.

Đồng thời Đại biểu đề nghị cân nhắc thêm việc phân biệt giữa đầu cơ, bỏ hoang đất không đưa vào sử dụng với trường hợp chậm đưa vào sử dụng, chưa triển khai đầu tư do những nguyên nhân khách quan. Theo Đại biểu, trong thực tế, tiến độ đầu tư có thể chịu ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính, sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc những biến động của thị trường. Do đó, đề nghị bổ sung quy định phân định rõ phần chậm trễ thuộc trách nhiệm của người sử dụng đất với nguyên nhân khách quan như thiên tai, sự kiện bất khả kháng.

Đại biểu Quốc hội Lê Nữ Thuỳ Dương (Đồng Nai) phát biểu tại thảo luận Tổ
Đại biểu Quốc hội Lê Nữ Thuỳ Dương (Đồng Nai) phát biểu tại thảo luận Tổ

Theo Đại biểu Lê Nữ Thuỳ Dương, Nghị quyết 21 của Trung ương đặt yêu cầu phát triển thị trường cho thuê đất nông nghiệp, tập trung vào đất đã có hạ tầng kỹ thuật và khuyến khích tích tụ, tập trung đất đai trên cơ sở tự nguyện. Qua rà soát, đại biểu nhận thấy dự thảo Luật mới dừng ở việc liệt kê các phương thức tập trung, tích tụ đất và các nguyên tắc chung.

Từ đó, Đại biểu đề nghị cần bổ sung các quy định: Chủ thể trung gian được nhận thuê hoặc nhận uỷ thác nhiều thửa đất để cho thuê lại thành vùng sản xuất; cơ chế đăng ký hợp đồng thuê dài hạn và ghi nhận tài sản hạ tầng hình thành trên đất; phân định giữa tiền thuê quyền sử dụng đất với phí sử dụng hạ tầng.

Đồng thời đề nghị bổ sung các quy định về tổ chức trung gian tập trung đất nông nghiệp theo hướng: Tổ chức phát triển quỹ đất, đơn vị công ích được giao nhiệm vụ, hợp tác xã và doanh nghiệp đáp ứng điều kiện do Chính phủ quy định được nhận uỷ thác hoặc thuê quyền sử dụng đất và cho thuê lại để sản xuất nông nghiệp, không làm chuyển quyền và không thay đổi mục đích sử dụng đất.

Bảo đảm quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi

Nhấn mạnh công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn là lĩnh vực phát sinh khá nhiều kiến nghị, khiếu nại, Đại biểu Quốc hội Tạ Thị Yên (Điện Biên) cho rằng điều cốt lõi là người dân nhường đất cho phát triển thì cuộc sống sau đó phải tốt hơn, hoặc ít nhất cũng không bị giảm sút. Luật đã có nguyên tắc nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, nhưng nếu chỉ nói như vậy thì khi thực hiện vẫn còn khá định tính.

"Theo tôi, phải có góc nhìn rộng hơn diện tích căn nhà. Nơi ở mới có giao thông thế nào, điện nước ra sao, con cái đi học có thuận lợi không, người dân đi khám bệnh, đi chợ thế nào và quan trọng nhất là sau khi chuyển đến đó họ làm gì để sống, thu nhập có còn ổn định không. Cần có tiêu chí đủ rõ để so sánh một cách thực chất nơi ở trước và sau tái định cư", Đại biểu Tạ Thị Yên phát biểu và nhấn mạnh: Sinh kế phải được coi là một tiêu chí rất quan trọng khi đánh giá chất lượng tái định cư. Cùng với đó, hỗ trợ sau thu hồi đất cũng không nên chỉ dừng ở một lần chi trả.

Đối với một hộ trước đây sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, nhận được một khoản tiền bồi thường mới chỉ giải quyết được trước mắt. Câu hỏi khó hơn là hai năm, ba năm sau họ sống bằng gì. Vì vậy, phải quan tâm đào tạo nghề, gắn nhiều hơn với cơ hội việc làm thực tế. Nhà đầu tư cũng nên có trách nhiệm phù hợp trong việc ưu tiên, tạo điều kiện sử dụng lao động tại địa phương bị thu hồi đất. Khu tái định cư cũng phải tính đến điều kiện làm ăn, buôn bán, sinh kế của người dân, không chỉ xây xong nhà và bố trí vào ở là hoàn thành.

"Tôi nghĩ người dân sẽ đồng thuận hơn khi họ thấy rằng mình giao đất cho phát triển nhưng tương lai của gia đình mình cũng được tính đến trong sự phát triển đó", Đại biểu Tạ Thị Yên nêu quan điểm.

Bổ sung về nguyên tắc xác định tỉ lệ bồi thường, điều kiện cấp giấy chứng nhận

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) bày tỏ cơ bản tán thành dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhất là việc quy định thẩm quyền ngay trong Luật, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và luật hóa việc áp dụng bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất thay cho định giá đất cụ thể.

Về "tỉ lệ bồi thường" do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định (Điều 72), Đại biểu cho rằng, thực tiễn triển khai cho thấy giá bồi thường khi giải phóng mặt bằng ở nhiều nơi còn thấp hơn rất nhiều giá thị trường; ngay với bảng giá đất và hệ số hiện hành, có nhiều nơi báo chí phản ánh, đơn giá bồi thường đất ở chưa đạt 50% giá thị trường. Nếu thêm một tỉ lệ do từng tỉnh tự đặt, không có mức sàn, có thể kéo mức bồi thường xuống thấp hơn nữa và trở thành nguồn khiếu kiện mới.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào điểm e khoản 2 Điều 72 nguyên tắc xác định tỉ lệ bồi thường (đủ để tạo lập chỗ ở, tư liệu sản xuất tương đương tại địa bàn), mức tối thiểu 100% và giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (thay cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định tỉ lệ này.

Về điều kiện cấp Giấy chứng nhận cho đất không có giấy tờ (Điều 66), thực tiễn triển khai cho thấy đất không có giấy tờ là nhóm hồ sơ tồn đọng lớn nhất và rủi ro kê khai sai đã xảy ra; có nhiều trường hợp chính cán bộ kê khai không trung thực nguồn gốc sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận với diện tích hàng nghìn m², sau đó việc cấp giấy bị kết luận là không đúng quy định. Đại biểu đề nghị bổ sung vào điểm b khoản 1 Điều 66 các điều kiện: Sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận sau khi niêm yết công khai; bổ sung vào Điều 66 nguyên tắc ưu tiên tài liệu do cơ quan nhà nước lập khi xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất.

Về cơ chế bảo vệ người thực thi đúng quy trình (Điều 18), Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ cho biết, thực tiễn cho thấy khoảng 90% khiếu kiện và 90% vụ việc xử lý cán bộ sai phạm thời gian qua liên quan đến đất đai; một số cán bộ, cơ quan được giao xác định giá đất còn tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm, dẫn đến kéo dài thời gian xác định giá đất. Thực tiễn trong lĩnh vực định giá đất có nhiều đại biểu phản ánh, vẫn có trường hợp cán bộ bị khởi tố dù không chứng minh được yếu tố vụ lợi, khiến cán bộ sợ, không dám làm.

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung khoản 7 vào Điều 18 nội dung: Người thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, căn cứ quy định và hồ sơ tại thời điểm quyết định, không vụ lợi thì không bị xử lý khi quy định hoặc cách hiểu thay đổi sau đó; sai sót không cố ý, không vụ lợi, đã chủ động khắc phục thì được xem xét miễn, giảm trách nhiệm.

Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ 

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh