Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/7/2026

23:06, 28/07/2026

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/7/2026.

Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045 
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045 (Đề án). Xây dựng thị trường tài chính phát triển đồng bộ, hiện đại và hội nhập với khu vực và thế giới.

Mục tiêu tổng quát của Đề án là xây dựng thị trường tài chính Việt Nam phát triển đồng bộ, hiện đại và hội nhập với khu vực và thế giới; có cấu trúc cân đối, hợp lý, có khả năng huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội; phát huy vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế; là động lực để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, liên tục đến năm 2045.

Phấn đấu đến năm 2045 thị trường tài chính Việt Nam có trình độ phát triển cao, vận hành theo nguyên tắc thị trường, có hệ thống thể chế, hạ tầng, sản phẩm, nhà đầu tư và cơ chế quản lý giám sát đạt chuẩn quốc tế; trong đó thị trường chứng khoán giữ vai trò trọng yếu, hệ thống ngân hàng phát triển an toàn, hiện đại, thị trường bảo hiểm phát triển bền vững; Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam từng bước trở thành cấu phần quan trọng trong kết nối dòng vốn, dịch vụ tài chính và các định chế tài chính trong khu vực.

Ban hành các cơ chế đột phá để phát triển thị trường vốn

Đề án đưa ra mục tiêu phát triển thị trường tài chính theo hướng cân bằng về cơ cấu, có sự liên kết, hỗ trợ giữa các cấu phần của thị trường; phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán công khai, minh bạch, tăng quy mô và độ sâu, tăng cường hiệu quả huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và nền kinh tế, đẩy mạnh huy động vốn thông qua chào bán cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng; nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, các định chế tài chính trung gian.

Phát triển cơ sở nhà đầu tư theo hướng bền vững, ưu tiên phát triển nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực tài chính (quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm...). Tăng tỷ trọng nhà đầu tư có tổ chức để phát triển cân bằng hơn giữa nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân; phấn đấu đến năm 2030, giá trị tài sản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán đạt khoảng 15%GDP; tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư chứng khoán đạt 5%GDP; quy mô tổng tài sản các quỹ hưu trí tăng trưởng bình quân 11,5%/năm trong giai đoạn 2026-2030.

Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng, phát triển ngân hàng số, tài chính toàn diện và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng; phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, bền vững, đóng góp tích cực cho ổn định tài chính, an sinh xã hội và đầu tư dài hạn.

Hiện đại hóa hạ tầng tài chính và thúc đẩy chuyển đổi số. Thiết lập hạ tầng thanh toán hiện đại, đồng bộ, hoạt động thông suốt, tự chủ, có kết nối với hệ thống thanh toán song phương và đa phương với các đối tác, khu vực và thế giới chậm nhất vào năm 2028. Triển khai thực hiện cơ chế đối tác bù trừ trung tâm trên thị trường chứng khoán cơ sở trong năm 2027. Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ quản lý, giám sát trên thị trường tài chính trong giai đoạn 2030-2035; vận hành hiệu quả các sản phẩm mới, thị trường mới, ban hành các cơ chế đột phá để phát triển thị trường vốn cả về quy mô và tính thanh khoản.

8 nhóm giải pháp

Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đưa ra 8 nhóm giải pháp cần thực hiện.

1- Nhóm giải pháp về thể chế chính sách: Rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật chuyên ngành; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để đề xuất xây dựng Luật về quản lý giám sát thị trường tài chính và dịch vụ tài chính, điều chỉnh tất cả các hoạt động liên quan đến việc thiết lập, giao dịch, trao đổi các sản phẩm tài chính vào thời điểm phù hợp; tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về thanh tra, kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thị trường tài chính và dịch vụ tài chính.

Rà soát, đánh giá để xây dựng, cập nhật các Chiến lược phát triển của từng thị trường cấu phần: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, chiến lược phát triển Trung tâm tài chính quốc tế; đề xuất cụ thể các mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ và lộ trình triển khai phù hợp với yêu cầu phát triển.

2- Nhóm giải pháp về sản phẩm, hàng hóa bao gồm: Thị trường cổ phiếu; thị trường trái phiếu Chính phủ; thị trường trái phiếu doanh nghiệp; thị trường chứng khoán phái sinh; thị trường tiền tệ - tín dụng; thị trường bảo hiểm; thị trường tài sản mã hóa.

Xây dựng lộ trình phát triển phân khúc vốn xanh trên thị trường chứng khoán thông qua phát triển các sản phẩm cổ phiếu xanh, trái phiếu doanh nghiệp xanh, các quỹ đầu tư ESG chuyên biệt. Xây dựng Bộ chỉ số chứng khoán xanh và nâng cấp các bộ chỉ số ESG hiện tại tiệm cận các chuẩn mực quốc tế nhằm hình thành hệ sinh thái đầu tư xanh.

Đối với thị trường trái phiếu Chính phủ thực hiện đa dạng hóa sản phẩm (trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, trái phiếu lãi suất thả nổi, trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát...) đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, nâng cao khả năng huy động vốn của Chính phủ.

Về thị trường tiền tệ - tín dụng tiếp tục phát triển tài chính toàn diện và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho người dân; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên (trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa) và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thúc đẩy tín dụng xanh; đẩy mạnh cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thông tin tín dụng trên môi trường số...

3- Nhóm giải pháp về cơ sở nhà đầu tư

Đối với các nhà đầu tư tổ chức trong nước: Triển khai các giải pháp tái cấu trúc nhà đầu tư và phát triển ngành quỹ đầu tư chứng khoán; tập trung phát triển và đa dạng hóa các loại hình quỹ đầu tư và bộ chỉ số chứng khoán, mở rộng hạn mức đầu tư quỹ mở và đa dạng hóa kênh phân phối chứng chỉ quỹ; khuyến khích các loại hình quỹ đầu tư phục vụ đầu tư dài hạn cho cơ sở hạ tầng, bất động sản, khởi nghiệp sáng tạo, chương trình dự án có mục tiêu xanh, bền vững...

Đối với các nhà đầu tư cá nhân khuyến khích nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường vốn, thị trường chứng khoán thông qua các định chế đầu tư chuyên nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả đầu tư...

Đối với nhà đầu tư nước ngoài từng bước đơn giản hóa thủ tục mở tài khoản, quy trình chuyển đổi ngoại tệ và chuyển lợi nhuận về nước đối với các nhà đầu tư nước ngoài; mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình phù hợp...

4- Nhóm giải pháp về phát triển các định chế tài chính trung gian và các tổ chức cung cấp dịch vụ: Nghiên cứu hình thành các ngân hàng có quy mô lớn, năng lực cạnh tranh khu vực và quản trị tiệm cận chuẩn mực và thông lệ quốc tế; tiếp tục khuyến khích một số ngân hàng thương mại có tầm quan trọng hệ thống áp dụng sớm các tỷ lệ đảm bảo an toàn theo quy định, tiệm cận chuẩn Basel III từ năm 2026; đẩy mạnh xử lý nợ xấu, ngăn ngừa, hạn chế tình trạng sở hữu chéo, tiếp tục đổi mới công tác giám sát theo hướng chuyển từ giám sát tuân thủ sang giám sát trên cơ sở rủi ro, tiệm cận với chuẩn mực và thông lệ quốc tế...

5- Nhóm giải pháp về hạ tầng thị trường, ứng dụng công nghệ thông tin: Thực hiện nâng cấp, hiện đại hoá Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng Quốc gia, Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử; đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ, hiện đại hóa hạ tầng giao dịch và thanh toán trên thị trường chứng khoán; nâng cấp tính năng kỹ thuật để đáp ứng các yêu cầu vận hành sản phẩm mới theo lộ trình...

6- Nhóm giải pháp về quản lý giám sát, điều hành thị trường: Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; tiếp tục đổi mới công tác giám sát ngân hàng theo hướng chuyển từ giám sát tuân thủ sang giám sát trên cơ sở rủi ro, tiệm cận với chuẩn mực và thông lệ quốc tế; triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thị trường vàng...

7- Nhóm giải pháp về hội nhập tài chính, nâng hạng thị trường chứng khoán và triển khai Trung tâm tài chính quốc tế: Triển khai công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện, hiệu quả, phù hợp với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Chính phủ, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh, an toàn hệ thống tài chính tiền tệ - ngân hàng...

8- Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tài chính và phổ cập kiến thức tài chính: Xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao để tổ chức triển khai tại các trường đại học trọng điểm; xây dựng đội ngũ chuyên gia về AI tài chính, an ninh mạng, dữ liệu lớn, quản trị rủi ro định lượng và tài chính quốc tế...

Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030 

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1415/QĐ-TTg ngày 28/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030.

Mục tiêu của Chương trình nhằm bảo đảm mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh; giảm thiểu trẻ em bị xâm hại trên phạm vi cả nước và tạo cơ hội cho trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật (sau đây gọi là lao động trẻ em), trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác được hòa nhập, phát triển toàn diện góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến trẻ em.

100% trẻ em bị xâm hại, có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi được hỗ trợ, can thiệp kịp thời

Phấn đấu đến năm 2030, 100% gia đình có trẻ em được cung cấp kiến thức, kỹ năng về bảo vệ trẻ em bằng các hình thức khác nhau; 100% học sinh được hướng dẫn kiến thức, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ trước các hành vi xâm hại trẻ em, bạo lực học đường, bạo lực trên môi trường mạng, kỹ năng phòng ngừa lao động trẻ em với nội dung phù hợp với lứa tuổi.

100% công chức, viên chức, người làm công tác bảo vệ trẻ em trong cơ quan quản lý y tế, giáo dục; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở giáo dục và cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bảo vệ trẻ em được nâng cao năng lực về bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em, lao động trẻ em.

90% doanh nghiệp đang hoạt động, hợp tác xã, hộ gia đình và cơ sở kinh doanh dịch vụ được cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng về phòng ngừa, phát hiện, giảm thiểu lao động trẻ em.

100% tỉnh, thành phố triển khai mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em tích hợp; 95% cấp xã triển khai mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em liên ngành và 100% cấp xã thành lập phòng điều tra thân thiện.

Giảm tỷ lệ trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục ít nhất 5% mỗi năm; giảm tỷ lệ lao động trẻ em (người từ 05 - 17 tuổi) xuống dưới 1,1%;

100% trẻ em bị xâm hại, trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi khi được phát hiện được hỗ trợ, can thiệp kịp thời, phù hợp; 100% yêu cầu trợ giúp pháp lý cho trẻ em được đáp ứng theo quy định của pháp luật.

100% trẻ em bị xâm hại, trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác được quản lý trên hệ thống cơ sở dữ liệu trẻ em và kết nối dùng chung với các hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan.

Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Chương trình đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như: Hoàn thiện quy định pháp luật và các cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, hướng dẫn về bảo vệ trẻ em; đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ trẻ em và nâng cao năng lực công tác bảo vệ trẻ em; phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; đẩy mạnh phòng ngừa, phát hiện và hỗ trợ, can thiệp lao động trẻ em và trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em; tăng cường hợp tác quốc tế và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác bảo vệ trẻ em.

Xây dựng, hoàn thiện các quy định về dịch vụ bảo vệ trẻ em

Về hoàn thiện quy định pháp luật và các cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, hướng dẫn về bảo vệ trẻ em, Chương trình yêu cầu:

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Trẻ em và các quy định pháp luật có liên quan đến trẻ em đảm bảo phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc tham gia ký kết, nhất là chính sách hỗ trợ các tổ chức, cơ sở, gia đình, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em.

Nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các quy định về dịch vụ bảo vệ trẻ em; quy trình, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật dịch vụ bảo vệ trẻ em; tiêu chí xác định lao động trẻ em, trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em và cơ chế phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em, phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em giữa các cơ quan, tổ chức liên quan.

Về công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ trẻ em và nâng cao năng lực công tác bảo vệ trẻ em, Chương trình nêu rõ: Tổ chức triển khai công tác truyền thông, phổ biến kiến thức, kỹ năng, vận động xã hội thực hiện quyền trẻ em, trách nhiệm về bảo vệ trẻ em theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, khai thác thế mạnh của môi trường mạng đảm bảo trọng tâm, trọng điểm, thiết thực và phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng vùng, miền; ưu tiên triển khai tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Xây dựng, phát triển các chương trình, sản phẩm, tài liệu truyền thông nâng cao năng lực về bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em, phòng ngừa lao động trẻ em và giáo dục pháp luật về trách nhiệm của gia đình, cá nhân, cơ sở giáo dục, cơ sở trợ giúp xã hội và các cơ quan, tổ chức đối với việc bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em, phòng ngừa lao động trẻ em.

Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực về bảo vệ trẻ em, trợ giúp pháp lý, phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em, phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em, bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và công tác xã hội đối với trẻ em cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, người cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, mạng lưới cộng tác viên, cán bộ quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức có liên quan.

Nhân rộng các mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em

Đối với việc phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, Chương trình yêu cầu:

Nghiên cứu lồng ghép, kết hợp các dịch vụ y tế, giáo dục, tư pháp, trợ giúp pháp lý và các dịch vụ an sinh xã hội; thúc đẩy liên kết giữa cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em các cấp để phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ liên thông, toàn diện, bảo đảm trẻ em và gia đình được cung cấp dịch vụ kịp thời, hiệu quả.

Nhân rộng các mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em hoạt động chất lượng, hiệu quả, bao gồm dịch vụ bảo vệ trẻ em tích hợp, dịch vụ bảo vệ trẻ em liên ngành, phòng điều tra thân thiện.

Chương trình cũng yêu cầu cần tập trung phòng ngừa, phát hiện lao động trẻ em và trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, trong chuỗi cung ứng, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, hộ gia đình, kinh doanh cá thể và các làng nghề.

Thực hiện quy trình hỗ trợ, can thiệp lao động trẻ em, trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em, đặc biệt đảm bảo trẻ em được tiếp cận đầy đủ các chính sách, chương trình, dịch vụ an sinh xã hội, giáo dục phổ thông, đào tạo nghề phù hợp và hỗ trợ gia đình có lao động trẻ em, trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em cải thiện sinh kế, đào tạo nghề, giảm nghèo;

Khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng cơ chế tự giám sát, đánh giá nguy cơ lao động trẻ em trong chuỗi cung ứng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa phù hợp.

Về tăng cường hợp tác quốc tế và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác bảo vệ trẻ em, Chương trình yêu cầu đẩy mạnh triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế trong khu vực và trên thế giới; huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế, các đối tác phát triển để thực hiện công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em, phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em.

Đồng thời, cập nhật, chuẩn hóa, kết nối dùng chung dữ liệu trẻ em với các hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan, đảm bảo an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trẻ em; nghiên cứu, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập, kết nối, chia sẻ dữ liệu về trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi, trở thành lao động trẻ em; trẻ em bị bạo lực; trẻ em bị xâm hại tình dục và lao động trẻ em.

Phân công nhiệm vụ chi tiết các bộ, cơ quan thực hiện Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em.

Nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Công văn số 879/TTg-PL của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Thông báo số 01-TB/BCĐTW, Chương trình số 04-CTr/BCĐTW và Công văn số 06/CTQH.

Công văn nêu: Thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo (Thông báo số 01-TB/BCĐTW ngày 06 tháng 7 năm 2026), Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật (Chương trình số 04-CTr/BCĐTW ngày 06 tháng 7 năm 2026); căn cứ ý kiến của đồng chí Chủ tịch Quốc hội tại Công văn số 06/CTQH ngày 03 tháng 7 năm 2026 về tình hình thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, đồng chí Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương quán triệt đầy đủ nội dung Thông báo số 01-TB/BCĐTW và Chương trình số 04-CTr/BCĐTW đến các cơ quan, đơn vị có liên quan; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi quản lý, xây dựng hoặc cập nhật chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện, bảo đảm rõ nội dung công việc, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm và tiến độ thực hiện.

Kiểm soát chặt việc ban hành mới thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xác định việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Kiểm soát chặt việc ban hành mới thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh; chỉ ban hành khi thực sự cần thiết, hợp pháp, hợp lý, chi phí tuân thủ thấp hơn lợi ích quản lý mang lại và không có giải pháp nào tối ưu hơn. Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở quản trị rủi ro; từ quản lý bằng giấy phép sang quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu số, trách nhiệm giải trình và công tác thanh tra, kiểm tra.

Quán triệt, thực hiện nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả, bảo đảm tiến độ thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo đúng Kế hoạch.

Tập trung nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ nâng cao trách nhiệm trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, gắn với việc thể chế hóa Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị; triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và của các cơ quan của Quốc hội. Tập trung nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách theo đúng tinh thần đổi mới và yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; khắc phục triệt để tình trạng đề xuất chính sách còn chung chung, thiếu định lượng, chưa rõ phương án lựa chọn; hạn chế trình các dự án theo thủ tục rút gọn; không để tình trạng chậm, dồn hồ sơ vào sát kỳ họp.

Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, bảo đảm tính đồng bộ, kịp thời đưa chính sách đi vào cuộc sống; tiếp tục thực hiện phân cấp, phân quyền đi đôi với đánh giá năng lực thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát.

Đẩy mạnh phát triển hạ tầng số, chia sẻ dữ liệu và từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong phân tích chính sách, dự báo tác động; khẩn trương hoàn thiện hồ sơ các dự án trình Quốc hội tại Kỳ họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm 2026, bảo đảm chất lượng, tiến độ; trong quá trình chuẩn bị dự án chủ động phối hợp chặt chẽ, từ sớm với các cơ quan của Quốc hội để bảo đảm trao đổi đầy đủ thông tin, thống nhất các nội dung ngay trong quá trình soạn thảo.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thường xuyên sơ kết, tổng kết, đánh giá hiệu quả của những chính sách, pháp luật đã ban hành, nhất là các chính sách, pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp, xác định những khó khăn, vướng mắc để đề xuất các giải pháp khắc phục với cơ quan, người có thẩm quyền.

Đồng thời, thường xuyên rà soát, đánh giá các cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW; chú trọng phản hồi thực tiễn, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật từ cơ sở.

Đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển doanh nghiệp nhà nước

Bộ Tài chính thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Thông báo số 01-TB/BCĐTW ngày 06 tháng 7 năm 2026, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là: (i) Phối hợp với các cơ quan liên quan tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước theo hướng xác định rõ danh mục các văn bản phải sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới và lộ trình thực hiện; đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển doanh nghiệp nhà nước; (ii) Khẩn trương trình Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08 tháng 6 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong tháng 7 năm 2026; tham mưu Chính phủ trình Quốc hội dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, bảo đảm chất lượng, tính cạnh tranh, khả thi và bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc.

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng môi trường

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Thông báo số 01-TB/BCĐTW ngày 06 tháng 7 năm 2026, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là: (i) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng môi trường không khí, xác lập chỉ tiêu chất lượng không khí bắt buộc đối với từng vùng, từng đô thị, từng giai đoạn, gắn với trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; chuyển từ kiểm soát từng nguồn thải rời rạc sang quản trị chất lượng không khí theo mục tiêu; thiết lập cơ chế điều phối liên vùng đủ mạnh trên cơ sở kiểm kê phát thải toàn diện, xác định rõ nguồn phát thải công nghiệp, giao thông, xây dựng, nông nghiệp, sinh hoạt; xây dựng cơ sở dữ liệu nguồn thải thống nhất; phát triển hệ thống quan trắc, giám sát, dự báo, cảnh báo chất lượng không khí hiện đại, công khai, minh bạch, đáng tin cậy; (ii) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan nghiên cứu, báo cáo kết quả thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng về xử lý ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường đất, gửi về Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật trước ngày 30 tháng 11 năm 2026.

Bộ Công an phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi); hồ sơ dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) theo đúng chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 184/NQ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2026 Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 7 năm 2026. Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan liên quan: (i) tham mưu Chính phủ phương án báo cáo Quốc hội cho phép kéo dài thời gian thực hiện đến hết năm 2027 đối với Nghị quyết số 206/2025/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan chức năng có đủ thời gian hoàn thiện các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; (ii) đảm bảo tiến độ nghiên cứu, xây dựng Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới", trình Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo (tháng 12 năm 2026)...

Kiện toàn Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ đầu tư 

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1392/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ đầu tư (Hội đồng).

Theo Quyết định này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn làm Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng là Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Bích Ngọc.

Các thành viên Hội đồng gồm: Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương; Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Mạnh Khương; Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng; Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành và thay thế danh sách thành viên tại Điều 1 Quyết định số 1511/QĐ-TTg ngày 11/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ đầu tư.

Kiện toàn thành viên Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về tổ chức thi hành án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ liên quan đến Tập đoàn Vạn Thịnh Phát 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 1416/QĐ-TTg ngày 28/7/2026 kiện toàn thành viên Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về tổ chức thi hành án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ liên quan đến Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (Ban Chỉ đạo 742).

Theo Quyết định, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu làm Phó Trưởng Ban Chỉ đạo 742.

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng là Thành viên Ban Chỉ đạo 742.

Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh