Nghị quyết số 21- NQ/TW thay thế Nghị quyết số 18-NQ/TW, tiếp tục kế thừa những quan điểm còn phù hợp, đồng thời bổ sung các định hướng mới nhằm hoàn thiện pháp luật đất đai theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát triển và quản lý.
![]() |
| Nghị quyết số 21- NQ/TW bổ sung các định hướng mới nhằm hoàn thiện pháp luật đất đai theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát triển và quản lý. |
Hoàn thiện chính sách về đất đai
Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương lần thứ ba (ngày 29/7), thay mặt Đảng ủy Chính phủ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày chuyên đề về Nghị quyết số 21- NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Theo Phó Thủ tướng, sau 4 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, nhiều chủ trương lớn đã được thể chế hóa trong Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các luật có liên quan, góp phần chuyển đổi tư duy quản lý đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời tạo thêm nguồn lực cho phát triển. Tuy nhiên, lĩnh vực đất đai vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, tái định cư, tài chính đất đai và giá đất. Những tồn tại này ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác nguồn lực đất đai, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ thất thoát, lãng phí và phát sinh khiếu kiện.
Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất ban hành nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 18-NQ/TW, tiếp tục kế thừa những quan điểm còn phù hợp, đồng thời bổ sung các định hướng mới nhằm hoàn thiện pháp luật đất đai theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát triển và quản lý.
Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc cho biết, tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là khơi thông nguồn lực đất đai nhưng không buông lỏng quản lý; thúc đẩy phát triển nhưng không để thất thoát tài sản công, gia tăng bất bình đẳng hoặc ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân.
Về thời hạn sử dụng đất, Trung ương yêu cầu nghiên cứu kỹ lưỡng cơ chế giao đất, cho thuê đất có thời hạn đối với một số loại hình sử dụng đất theo lộ trình phù hợp. Đối với đất xây dựng nhà ở thương mại để bán, tiếp tục thực hiện giao đất lâu dài, trong đó ưu tiên chủ yếu là nhà chung cư. Nghị quyết cũng định hướng hạn chế việc phân lô bán nền, xây dựng biệt thự và nhà ở riêng lẻ tại khu vực đô thị, nhất là các đô thị lớn; quy định thời hạn sử dụng nhà chung cư theo niên hạn xây dựng công trình. Khi công trình hết thời hạn sử dụng, chủ sở hữu thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây dựng mới theo quy định.
Bên cạnh đó, Nghị quyết yêu cầu có chính sách ưu đãi trong giao đất, cho thuê đất nhằm khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển thị trường nhà ở cho thuê.
Đối với công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất, Nghị quyết yêu cầu quy định rõ phạm vi thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; bảo đảm không quá rộng để tránh lạm dụng nhưng cũng không quá hẹp gây khó khăn cho các dự án thiết yếu.
Nhà nước thực hiện thu hồi phần diện tích còn lại của dự án khi nhà đầu tư đã thỏa thuận được phần lớn diện tích và nhận được sự đồng thuận của đa số người sử dụng đất trong phạm vi thực hiện dự án. Nghị quyết tiếp tục thực hiện chủ trương tách dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập để triển khai trước; yêu cầu các khu tái định cư phải bảo đảm hạ tầng, dịch vụ và sinh kế cho người dân. Đồng thời, cụ thể hóa nguyên tắc người có đất ở bị thu hồi phải có chỗ ở và điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ; tăng cường các giải pháp phòng ngừa trục lợi chính sách, đầu cơ bồi thường và xây dựng trái phép sau khi có thông báo thu hồi đất.
Nghị quyết xác định giá đất do Nhà nước quyết định trên cơ sở mục tiêu phát triển từng thời kỳ, bảo đảm thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, giảm chi phí đầu vào cho sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Việc xác định giá đất phải dựa trên dữ liệu đầy đủ, phương pháp khoa học, công khai; tăng cường kết nối dữ liệu đất đai với dữ liệu thuế, công chứng, ngân hàng và thị trường bất động sản; không để xảy ra tình trạng thao túng giá, giá ảo hoặc hình thành cơ chế nhiều mức giá.
Nhà nước ban hành bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, tỷ lệ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tỷ lệ bồi thường phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.
Nghị quyết cũng quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan xác định, thẩm định và quyết định giá đất theo nguyên tắc Trung ương ban hành tiêu chí khung, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế kiểm tra, giám sát; địa phương quyết định giá đất.
Về chính sách tài chính đất đai, Nghị quyết yêu cầu bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư; có cơ chế điều tiết hợp lý nguồn thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất giữa Trung ương và địa phương; quản lý, điều tiết giá trị tăng thêm từ đất do quy hoạch, đầu tư hạ tầng, chuyển mục đích sử dụng đất và mở rộng không gian đô thị để tạo nguồn lực cho phát triển hạ tầng, chỉnh trang đô thị, phát triển nhà ở chính sách và an sinh xã hội.
Vĩnh Long chú trọng nâng cao giá trị và hiệu quả khai thác đất đai
Theo định hướng của Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan, quản lý và sử dụng đất cần hướng đến hiệu quả, tiết kiệm, hạn chế lãng phí, đồng thời khai thác tốt nguồn lực đất đai phục vụ phát triển hạ tầng, đô thị, khu công nghiệp, dịch vụ và thu hút đầu tư.
![]() |
| Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 21- NQ/TW là khơi thông nguồn lực đất đai nhưng không buông lỏng quản lý. |
Để thực hiện hiệu quả công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện các công cụ quản lý, nhất là bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất, có vai trò quan trọng. Tỉnh Vĩnh Long hiện đang tập trung điều chỉnh Bảng giá đất lần đầu năm 2026.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, đến ngày 10/7/2026, tỉnh đã ký hợp đồng với đơn vị tư vấn để lập dự án xây dựng quy định mức tối đa, mức tối thiểu của hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường và sửa đổi, bổ sung Quy định ban hành kèm theo Nghị quyết số 39/2025/NQ-HĐND của HĐND tỉnh.
Đơn vị tư vấn đang hoàn chỉnh dự thảo để gửi Sở Tài chính thẩm định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đây là một trong những nội dung nhằm từng bước hoàn thiện cơ sở quản lý giá đất, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai.
Đối với hệ số điều chỉnh giá đất năm 2026, UBND tỉnh đã cho chủ trương xây dựng quyết định quy phạm pháp luật và lập dự án xây dựng hệ số điều chỉnh giá đất. Hội đồng thẩm định bảng giá đất, thẩm định hệ số điều chỉnh giá đất tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức thẩm định dự thảo quyết định và ban hành Thông báo số 28/TB-HĐTĐ ngày 7/7/2026.
Cùng với hoàn thiện cơ chế giá đất, công tác xác định giá đất cụ thể và kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất cũng được tiếp tục thực hiện. Qua rà soát, đến nay có 5 trường hợp cần xác định giá đất cụ thể; ngành chức năng đang thực hiện và theo dõi tiến độ.
Trong công tác kiểm tra, ngành chức năng tiếp tục phối hợp bổ sung hồ sơ, hoàn thiện báo cáo kết quả kiểm tra đối với 13 dự án năm 2025 chuyển sang. Đến nay, đã có thông báo kết luận 10/13 dự án; 3 dự án còn lại đang được phối hợp bổ sung hồ sơ, hoàn thiện báo cáo.
Theo ông Trần Trường Giang- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, trong năm 2026, Sở tiếp tục tổ chức triển khai toàn diện, hiệu quả công tác quản lý đất đai. Theo đó, lập, rà soát điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp; thực hiện điều tra, đánh giá đất đai, bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất; triển khai đo đạc, lập hồ sơ địa chính; thống kê đất đai; xây dựng, cập nhật, quản lý, vận hành, khai thác Hệ thống thông tin, dữ liệu về đất đai; cung cấp dịch vụ công trực tuyến và giao dịch điện tử về đất đai; xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật lập hành lang bảo vệ nguồn nước; thực kiểm tra chuyên ngành đất đai...
Vận hành hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai tập trung, thống nhất, đa mục tiêu, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai ở khu vực đô thị, nâng cao các chỉ số: “Tiếp cận đất đai”, “Đăng ký đất đai” và “Chất lượng quản lý hành chính đất đai”. Kiểm soát chặt chẽ và công khai, minh bạch trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, hoạt động sản xuất và đời sống của người có đất thu hồi. Triển khai các mô hình tập trung, tích tụ đất đai phù hợp với điều kiện của từng địa phương; điều tra, cải tạo khắc phục tình trạng thoái hóa đất, suy giảm chất lượng đất.
Việc rà soát hồ sơ, xác định giá đất và kiểm tra các dự án, vị trí đất không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn hướng đến sử dụng đất đúng mục đích, hiệu quả, hạn chế tình trạng nguồn lực đất đai bị bỏ ngỏ hoặc sử dụng chưa phù hợp. Qua đó, từng bước nâng cao giá trị và hiệu quả khai thác đất đai, tạo cơ sở phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai
Bên cạnh đó, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đang được tỉnh chú trọng theo hướng khai thác hiệu quả hơn tiềm năng đất đai, nâng giá trị sản xuất trên cùng diện tích. Trong trồng trọt, tỉnh tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa, ứng dụng khoa học kỹ thuật, tận dụng tối đa đất sản xuất, hạn chế bỏ đất trống và mở rộng diện tích rau màu, cây hàng năm phù hợp. Tập trung cải tạo vườn tạp, vườn già cỗi, kém hiệu quả để phát triển cây dừa và cây ăn trái có lợi thế.
![]() |
| Vĩnh Long chú trọng khai thác hiệu quả hơn tiềm năng đất đai, nâng giá trị sản xuất trên cùng diện tích. |
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, đến nay, diện tích cây lâu năm đạt khoảng 224 ngàn hecta, sản lượng khoảng 1,86 triệu tấn, tăng 3% so cùng kỳ. Cùng với chuyển đổi cây trồng, cơ cấu sản xuất được đa dạng hóa thông qua phát triển chăn nuôi, thủy sản và các mô hình sản xuất gắn với chuỗi giá trị. Toàn tỉnh có trên 81,4 ngàn hecta sản xuất hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao; trong đó có diện tích sản xuất theo VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, nuôi thủy sản thâm canh và thâm canh mật độ cao. Các mô hình này góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng đất, thay vì chỉ gia tăng sản lượng theo chiều rộng.
Định hướng thời gian tới, ngành nông nghiệp tiếp tục chuyển đổi những diện tích sản xuất kém hiệu quả sang cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện đất đai và nhu cầu thị trường. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, liên kết chuỗi, xây dựng mã số vùng trồng và phát triển thương hiệu. Qua đó, từng bước chuyển từ tư duy khai thác diện tích sang nâng cao giá trị sản xuất trên mỗi đơn vị diện tích, góp phần phát triển nông nghiệp xanh, hiệu quả và bền vững.
Bài, ảnh: AN - THẢO




