EU dịch chuyển quy định nhập khẩu, nông sản Việt cần thay đổi từ vùng sản xuất

19:30, 28/09/2026

Mỗi năm Liên minh châu Âu (EU) nhập khẩu khoảng 35 tỷ USD nông, lâm, thủy sản và là một trong ba thị trường lớn nhất của Việt Nam đối với các nhóm hàng này. Hiện thị trường này đang chuyển mạnh từ kiểm soát sản phẩm tại cửa khẩu sang yêu cầu minh bạch, truy xuất và kiểm soát ngay từ quá trình sản xuất.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Siết dư lượng đến kiểm soát ngay tại vùng sản xuất, mở cửa cho hàng chế biến
Một trong những dịch chuyển rõ nhất của thị trường EU là liên tục cập nhật và nâng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, đặc biệt là mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL).

Theo ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, từ đầu năm 2026 đến nay, EU đã đưa ra khoảng 90 thông báo thay đổi liên quan đến các quy định về an toàn thực phẩm. Gần đây, EU có 7 thông báo điều chỉnh mức dư lượng tối đa đối với một loạt hoạt chất, trong đó nhiều hoạt chất đang được phép sử dụng tại Việt Nam có thể bị đưa về mức rất thấp, khoảng 0,01-0,05 ppm.

Những thay đổi này tác động trực tiếp tới nhiều mặt hàng Việt Nam đang xuất khẩu mạnh sang EU như ớt, ớt chuông, xoài, trà, cà phê, hạt tiêu.

Ông Ngô Xuân Nam dẫn chứng, trong 7 thông báo mới của EU có 2 hoạt chất hiện được phép sử dụng tại Việt Nam. Trong khi quy định trong nước có thể cho phép mức dư lượng tới 10 ppm, EU dự kiến áp dụng mức chỉ 0,01-0,05 ppm đối với một số sản phẩm như xoài, cà chua.

Điều này cho thấy một thay đổi quan trọng đối với doanh nghiệp xuất khẩu: sản phẩm đáp ứng quy định trong nước chưa đồng nghĩa với việc đáp ứng yêu cầu của thị trường EU.

Thay vì chờ kiểm nghiệm lô hàng trước khi xuất khẩu, doanh nghiệp phải kiểm soát ngay từ đầu vào sản xuất, từ lựa chọn hoạt chất, liều lượng, thời điểm sử dụng đến thời gian cách ly để bảo đảm sản phẩm đáp ứng MRL của thị trường nhập khẩu.

Theo dự kiến, các quy định mới được EU công bố ngày 1/3/2027 và có hiệu lực sau 20 ngày. Việt Nam có khoảng 6 tháng để chuẩn bị, điều chỉnh quy trình sản xuất và kiểm soát. Với những ngành hàng có chu kỳ sản xuất dài, đây là khoảng thời gian không dài để thay đổi quy trình sản xuất.

Cùng với dư lượng, EU tiếp tục duy trì cơ chế kiểm soát đối với các nhóm sản phẩm có nguy cơ cao.

Hiện Việt Nam còn 4 nhóm chịu quy định về tần suất kiểm tra tại biên giới EU gồm ớt chuông, thanh long, sầu riêng và đậu bắp. EU định kỳ 6 tháng xem xét, đánh giá lại tần suất kiểm tra đối với từng nhóm sản phẩm và từng quốc gia.

EU cũng đã công bố danh sách các nhóm sinh vật gây hại cần kiểm soát tại biên giới, trong đó có ruồi quả đã xuất hiện trên bưởi của Việt Nam. Theo khuyến nghị của Văn phòng SPS Việt Nam, muốn đẩy mạnh xuất khẩu bưởi, cơ quan chuyên môn và doanh nghiệp phải kiểm soát sinh vật gây hại ngay từ vùng sản xuất.

Thị trường EU cũng không chỉ dịch chuyển theo hướng siết chặt, theo ông Ngô Xuân Nam, EU đang giảm kiểm tra biên giới đối với một số thực phẩm chế biến có mức độ rủi ro thấp như ngũ cốc chế biến, khoai tây chiên, rau quả chế biến, nước sốt... Đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến.

Như vậy, thị trường EU đang tạo ra hai xu hướng song song: tăng kiểm soát đối với những nhóm hàng có nguy cơ cao, nhưng tạo thuận lợi hơn cho những sản phẩm chế biến có mức độ rủi ro thấp.

Đây là tín hiệu để doanh nghiệp tính toán lại cơ cấu sản phẩm, thay vì chỉ tập trung vào xuất khẩu nguyên liệu hoặc hàng tươi.

Số hóa sẽ trở thành điều kiện tiếp cận thị trường
Một thay đổi khác có tính dài hạn là EU đang đẩy mạnh số hóa các thủ tục liên quan đến hàng nông sản nhập khẩu.

Theo ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp, Phái đoàn Việt Nam tại EU, EU đang chuẩn bị đưa vào vận hành Hệ thống phi hải quan điện tử đối với hàng nông sản nhập khẩu (ELAN), dự kiến áp dụng đầy đủ từ ngày 17/1/2028. Hệ thống nhằm số hóa quy trình cấp, quản lý và kiểm tra chứng từ phi hải quan, cho phép xác minh theo thời gian thực, giảm sử dụng giấy tờ và có thể rút ngắn thời gian thông quan.

Với Việt Nam, điều này đồng nghĩa yêu cầu về dữ liệu sẽ ngày càng trở thành một phần của năng lực xuất khẩu.

Theo ông Trần Văn Công, Việt Nam có khoảng 1,5 năm để đẩy nhanh số hóa dữ liệu trong lĩnh vực nông nghiệp, chuẩn hóa hồ sơ và quy trình quản lý để tương thích với ELAN.

Doanh nghiệp vì vậy không chỉ cần biết quy định hiện hành mà phải theo dõi những thay đổi sắp được áp dụng để có thời gian điều chỉnh.

"Việc cập nhật các quy định mới của EU cần được thực hiện đồng bộ từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp đến người sản xuất", ông Trần Văn Công nhấn mạnh.

Cà phê là một ví dụ rõ về sự chuyển dịch từ kiểm soát sản phẩm sang kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng.

Ngành cà phê Việt Nam dành khoảng 85% sản lượng cho xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, Quy định chống mất rừng của EU (EUDR) đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh nguồn gốc, tính hợp pháp của đất đai canh tác và khẳng định quá trình sản xuất không liên quan đến phá rừng.

Theo ông Bạch Thanh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA), xuất khẩu cà phê Việt Nam đạt khoảng 9 tỷ USD trong năm 2025. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế vì vậy ngày càng có ý nghĩa đối với năng lực cạnh tranh của ngành.

Từ góc độ phát triển bền vững, bà Nguyễn Việt Hà, Quản lý cấp cao về bền vững của Tổ chức quốc tế 4C, cho rằng: "Các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và sản xuất bền vững cũng là động lực để doanh nghiệp và nông dân chuẩn hóa chuỗi cung ứng".

Để đáp ứng yêu cầu này, sự thay đổi không thể chỉ diễn ra ở doanh nghiệp xuất khẩu. Từ nông hộ, đại lý thu gom, thương nhân trung gian đến cơ sở chế biến, mỗi công đoạn đều phải có khả năng kiểm chứng và số hóa thông tin.

Theo ông Trần Văn Công, yêu cầu đặt ra là chuyển từ tư duy "kiểm tra để xuất khẩu" sang "kiểm soát để sản xuất đạt chuẩn xuất khẩu". Với các mặt hàng có nguy cơ cao về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hoặc sinh vật gây hại, việc kiểm soát phải bắt đầu từ vùng nguyên liệu, gắn với sử dụng vật tư nông nghiệp đúng quy định, truy xuất nguồn gốc và giám sát trước thu hoạch.

Đối với doanh nghiệp Việt Nam, thích ứng với thị trường EU vì vậy ngày càng gắn với ba yêu cầu: chủ động cập nhật quy định, tổ chức lại vùng nguyên liệu và số hóa dữ liệu, đồng thời tăng chế biến sâu để nâng giá trị sản phẩm.

Đây cũng là cách biến những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường EU từ một điều kiện bắt buộc thành động lực tổ chức lại sản xuất theo hướng minh bạch, an toàn và bền vững.

Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ 

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh