Phát triển vùng nguyên liệu tập trung cho nông sản chủ lực

06:43, 28/09/2026

Thời gian qua, tỉnh chú trọng phát triển vùng nguyên liệu (NL) tập trung cho nông sản chủ lực, đáp ứng yêu cầu chất lượng và nhu cầu thị trường.

Ngành nông nghiệp phối hợp với nông dân, HTX và doanh nghiệp (DN) tổ chức lại sản xuất, gắn phát triển vùng NL với chế biến, tiêu thụ nhằm nâng giá trị nông sản. Đến tháng 8/2026, toàn tỉnh có 683 mã số vùng trồng với hơn 28,4 ngàn ha cùng 107 cơ sở đóng gói xuất khẩu.

Phát triển vùng nguyên liệu gắn với tiêu chuẩn chất lượng và liên kết tiêu thụ là một trong những định hướng của ngành nông nghiệp. Trong ảnh: Nông dân trồng dừa tại xã Trung Hiệp.
Phát triển vùng nguyên liệu gắn với tiêu chuẩn chất lượng và liên kết tiêu thụ là một trong những định hướng của ngành nông nghiệp. Trong ảnh: Nông dân trồng dừa tại xã Trung Hiệp.

Phát huy lợi thế ngành hàng chủ lực

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh có 225,5 ngàn ha cây lâu năm, gồm trên 123 ngàn ha dừa và 102,4 ngàn ha cây ăn trái. Cùng lúa gạo và thủy sản, đây là những ngành hàng lợi thế phát triển vùng NL phục vụ chế biến, tiêu thụ nội địa, xuất khẩu.

Đối với dừa, chuỗi liên kết hình thành từ vùng trồng, HTX đến DN thu mua, chế biến, xuất khẩu. Tỉnh có hơn 30,7 ngàn ha dừa chứng nhận hữu cơ.

DN Betrimex, Chế biến dừa Lương Quới, Chế biến dừa Á Châu... tham gia liên kết tiêu thụ, phát triển vùng NL đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ Mỹ, Nhật Bản, EU. Khoảng 151 DN chế biến nội tỉnh góp phần tiêu thụ NL, với hơn 60% sản lượng dừa công nghiệp tiêu thụ qua nhà máy nội tỉnh.

Năm 2025, giá trị sản xuất chế biến dừa ước đạt 8,15 ngàn tỷ đồng, tăng 5,84% so với năm trước; kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 600 triệu USD. Hoạt động chế biến, xuất khẩu kết nối vùng trồng với thị trường. Khai thác phụ phẩm dừa được DN quan tâm. Năm 2026, tỉnh dự kiến phát triển thêm khoảng 13,4 ngàn ha dừa hữu cơ, nâng tổng diện tích lên khoảng 44 ngàn ha gắn với truy xuất nguồn gốc, sản xuất giảm phát thải, liên kết tiêu thụ.

Với cây ăn trái và cây trồng khác, ngành nông nghiệp triển khai sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ gắn với xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc. Tính đến tháng 8/2026, toàn tỉnh có 683 mã số vùng trồng với hơn 28,4 ngàn ha. Trong đó, 622 mã số phục vụ xuất khẩu, hơn 25,6 ngàn ha sầu riêng, chôm chôm, nhãn, khoai lang, bưởi, dừa... Tỉnh có 107 cơ sở đóng gói xuất khẩu nông sản, phục vụ khâu xử lý, đóng gói sản phẩm.

Đối với lúa, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL triển khai tại tỉnh. Vụ Đông Xuân 2025-2026, diện tích thực hiện đạt 8,2 ngàn ha, năng suất 7,25 tấn/ha, cao hơn sản xuất đại trà 0,66 tấn/ha. Ngành tổ chức 42 lớp tập huấn cho hơn 1,7 ngàn lượt nông dân và 50 cán bộ quản lý, phụ trách nông nghiệp, khuyến nông.

Lĩnh vực thủy sản, mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ giữa hộ nuôi, HTX và DN bước đầu hình thành đối với tôm, cá tra. Ngành tăng cường hướng dẫn đăng ký nuôi trồng, cấp mã số vùng nuôi, quản lý con giống, vật tư đầu vào, môi trường nuôi.

Củng cố liên kết sản xuất và tiêu thụ

Dù có kết quả bước đầu, phát triển vùng NL gặp khó khăn do sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; liên kết sản xuất, tiêu thụ chưa chặt chẽ. Ứng dụng công nghệ cao, tiêu chuẩn VietGAP, chuyển đổi số còn hạn chế; hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu. Giá nông sản biến động, chi phí vật tư đầu vào cao ảnh hưởng thu nhập người dân. Thực tế này đòi hỏi phát triển vùng NL đi cùng tổ chức lại sản xuất, nâng cao năng lực chế biến, kết nối thị trường.

HTX giữ vai trò quan trọng tập hợp nông dân, liên kết với DN. Toàn tỉnh có 471 HTX nông nghiệp với gần 52,5 ngàn thành viên; 359 HTX hoạt động, 112 HTX ngừng hoạt động chuẩn bị giải thể. Có 107 HTX tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Củng cố năng lực quản trị, tổ chức sản xuất, kết nối thị trường của HTX là nhiệm vụ chú trọng tạo điều kiện cho hộ sản xuất tham gia vùng NL.

Ông Kataoka Keiichiro- Tổng Giám đốc Công ty Jizoku Inc., đánh giá tỉnh có lợi thế về quy mô vùng NL, hệ thống DN chế biến. DN mong muốn khảo sát khả năng thu gom, tái sử dụng phụ phẩm, điều kiện vận chuyển NL từ cơ sở chế biến; nghiên cứu ứng dụng than sinh học kết hợp giải pháp sinh học trong sản xuất.

Theo ông Lê Văn Dũng- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, bên cạnh nâng chất lượng NL, tận dụng phụ phẩm là hướng nâng giá trị ngành dừa. Tỉnh định hướng nghiên cứu, thí điểm sản xuất than sinh học từ vỏ dừa tại vùng diện tích lớn. Đối với ngành hàng chủ lực, sở tham mưu xây dựng Đề án phát triển vùng NL, sản xuất tập trung đối với cây trồng, vật nuôi đến năm 2030, định hướng đến năm 2050. Ngành hoàn chỉnh dự thảo vùng quy hoạch trồng lúa năng suất, chất lượng cao và đề án phát triển trồng trọt.

Hỗ trợ quản lý vùng NL, ngành triển khai thuê phần mềm cơ sở dữ liệu số về vùng trồng, vùng nuôi gắn với bản đồ chuyên ngành, dữ liệu đất đai. Thông tin được chuẩn hóa từ vị trí, diện tích, chủ thể sản xuất đến sản lượng, quy trình, tiêu chuẩn. Hệ thống truy xuất nguồn gốc được ưu tiên khai thác, chia sẻ dữ liệu nhằm hạn chế thông tin phân tán. Tỉnh xác định dự án kêu gọi đầu tư vào nông nghiệp, ưu tiên chế biến sâu từ nguồn NL địa phương theo hướng kết nối sản xuất với bảo quản, chế biến, tiêu thụ, tăng sự tham gia của DN, HTX, nông dân.

Bài, ảnh: NGUYÊN KHANG

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh