Nuôi thủy sản (TS) chủ lực và nuôi lồng bè là thế mạnh của tỉnh, song công tác đăng ký, xác nhận cơ sở nuôi vẫn còn khoảng trống, nhất là đối với nuôi tôm nước lợ và nuôi lồng bè.
Việc thực hiện Nghị định số 41/2026/NĐ-CP, ngày 25/1/2026 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật TS đang được tỉnh tập trung triển khai, từng bước hoàn thiện dữ liệu vùng nuôi, phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc và phát triển TS bền vững.
![]() |
| Cơ sở nuôi cá lồng bè từng bước thực hiện đăng ký, phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc. Ảnh: THẢO LY |
Từng bước hoàn thiện quản lý vùng nuôi
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, công tác đăng ký nuôi đối tượng TS chủ lực và nuôi lồng bè theo Nghị định số 41/2026/NĐ-CP đã đạt kết quả tích cực. Toàn tỉnh đã cấp giấy xác nhận cho hơn 6,2 ngàn cơ sở, với diện tích hơn 6 ngàn ha mặt nước nuôi và thể tích lồng bè hơn 169,6 ngàn m³.
Trong đó, cá tra có 167 cơ sở được cấp giấy xác nhận, với hơn 1,1 ngàn ha, đạt 100%. Đối với tôm nước lợ, gần 6 ngàn cơ sở được cấp giấy, với hơn 5 ngàn ha, đạt khoảng 55% diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú. Nuôi lồng bè có 117 giấy xác nhận, với thể tích hơn 169,6 ngàn m³, đạt khoảng 40%. Ngoài ra, 2 cơ sở nuôi cá rô phi với diện tích 21ha đăng ký cấp giấy xác nhận theo nhu cầu.
Trước khi thực hiện phân cấp, công tác cấp giấy xác nhận do Chi cục TS, Kiểm ngư và Biển đảo trực tiếp thực hiện theo Nghị định số 26/2019/NĐ-CP và Nghị định số 37/2024/NĐ-CP.
Từ khi Nghị định số 41/2026/NĐ-CP có hiệu lực, UBND xã, phường được phân cấp thẩm quyền và đã cấp 47 giấy xác nhận, với 136ha mặt nước nuôi và 22m³ lồng bè. Kết quả này góp phần đưa công tác quản lý cơ sở nuôi về gần địa bàn sản xuất, từng bước phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Tuy nhiên, tỷ lệ đăng ký đối với tôm nước lợ mới đạt khoảng 55%, nuôi lồng bè khoảng 40%, cho thấy vẫn còn nhiều cơ sở thuộc diện phải đăng ký chưa hoàn thành thủ tục.
Theo ông Phạm Minh Truyền- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc triển khai gặp khó khăn sau sắp xếp đơn vị hành chính và phân cấp thẩm quyền. Một bộ phận cán bộ cấp xã thực hiện thủ tục cấp giấy bước đầu còn hạn chế.
Cơ sở dữ liệu giữa các địa phương trước hợp nhất chưa đồng bộ, nhiều hồ sơ lưu trữ bằng giấy, chưa được số hóa. Trong khi đó, vùng nuôi phân bố rộng, sản xuất còn nhỏ lẻ nên công tác rà soát, thống kê và hướng dẫn đăng ký cần nhiều thời gian.
Việc triển khai tại các địa phương đang được đẩy nhanh. Tại xã An Bình, ông Hồ Thế Nhu- Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết địa phương có khoảng 82,7ha cá tra thương phẩm và hơn 1,8 ngàn lồng, bè nuôi TS, với hơn 190 hộ nuôi và 2 HTX. Thực hiện Nghị định số 41/2026/NĐ-CP, xã đã tăng cường rà soát, tuyên truyền, hướng dẫn người dân hoàn thiện thủ tục. Đến nay, địa phương đã tiếp nhận, thẩm định và xác nhận hồ sơ cho 5 cơ sở, với tổng diện tích 12,7ha và 59 lồng, bè.
Tại xã Bảo Thạnh, nuôi tôm là một trong những thế mạnh của địa phương, với khoảng 463ha nuôi thâm canh, trong đó diện tích nuôi công nghệ cao khoảng 350ha. Toàn xã có 135 trường hợp thuộc diện phải đăng ký. Trước đây, 25 trường hợp đã hoàn thành thủ tục; trong 7 tháng đầu năm, địa phương tiếp tục cấp 4 hồ sơ với diện tích khoảng 200ha. Hiện xã còn khoảng 110 trường hợp cần tiếp tục vận động đăng ký.
Gắn đăng ký với nâng giá trị thủy sản
Việc hoàn thiện đăng ký cần được đẩy mạnh, nhất là ở những vùng nuôi còn tỷ lệ đăng ký thấp. Cùng với cấp giấy xác nhận, việc rà soát, cập nhật thông tin cơ sở nuôi cần được thực hiện đồng bộ để phục vụ công tác quản lý, kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Để nâng cao hiệu quả quản lý, ông Phạm Minh Truyền cho biết xã, phường cần khẩn trương rà soát cơ sở thuộc diện phải đăng ký, lập danh sách những trường hợp chưa thực hiện và xây dựng lộ trình vận động cụ thể.
Cùng với tuyên truyền, địa phương cần bố trí cán bộ trực tiếp hướng dẫn người nuôi hoàn thiện hồ sơ, đẩy mạnh số hóa, cập nhật dữ liệu về diện tích, người nuôi, địa điểm nuôi và tình trạng đăng ký. Chi cục TS, Kiểm ngư và Biển đảo tiếp tục hỗ trợ nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã, bảo đảm thực hiện thủ tục thống nhất sau phân cấp.
Nhấn mạnh vai trò của công tác đăng ký, Phó Chủ tịch UBND tỉnh- Châu Văn Hòa cho rằng: Nuôi TS chủ lực là thế mạnh, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông, lâm, TS của tỉnh. Do đó, Nghị định số 41/2026/NĐ-CP cần được triển khai đồng bộ đến từng hộ nuôi, tổ hợp tác, HTX và doanh nghiệp để người nuôi nắm rõ quy trình, thủ tục và trách nhiệm đăng ký.
Đăng ký nuôi phục vụ công tác quản lý nhà nước và tạo cơ sở truy xuất nguồn gốc, tăng cường liên kết với doanh nghiệp, hướng tới đáp ứng tiêu chuẩn chứng nhận, qua đó nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm TS chủ lực.
Từ yêu cầu này, ngành nông nghiệp và môi trường cần tiếp tục tập huấn, hướng dẫn chuyên sâu cho cán bộ cấp xã, xây dựng sổ tay hướng dẫn để thực hiện thống nhất. Địa phương tăng cường vận động người dân, tổ hợp tác, HTX hoàn thành đăng ký; đồng thời xây dựng kế hoạch hậu kiểm, thường xuyên theo dõi tình hình cấp giấy xác nhận để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Tỉnh tiếp tục hoàn thiện đề án phát triển nuôi trồng TS, làm cơ sở định hướng đầu tư hạ tầng vùng nuôi; phối hợp xây dựng quy chuẩn địa phương về nuôi lồng, bè phục vụ công tác quản lý. Xã, phường tập trung rà soát cơ sở thuộc diện đăng ký, hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, đẩy nhanh cấp giấy đối với cơ sở đủ điều kiện và cập nhật dữ liệu. Việc phát triển vùng nuôi cần gắn với quy hoạch chung của địa phương, hướng đến tổ chức sản xuất an toàn, minh bạch và bền vững.
SONG THẢO


