Hiện nay, việc xây dựng bản đồ số vùng nguyên liệu dừa hữu cơ được xem là rất cần thiết, là bước đi mang tính chiến lược. Qua đó giúp số hóa dữ liệu ngành dừa, tạo nền tảng tái cấu trúc chuỗi giá trị ngành dừa, giải quyết bài toán vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Thị Bé Mười- Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh (thứ hai trái sang) cùng đoàn công tác khảo sát vườn dừa hữu cơ tại phường Phú Khương có xây dựng mã số từng cây phục vụ du khách tham quan. |
Hệ thống dữ liệu dùng chung
Hiện Việt Nam là một trong những quốc gia sản xuất và chế biến dừa lớn trên thế giới, với diện tích sản xuất 200 ngàn hecta; trong đó, ĐBSCL là vùng nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp chế biến dừa Việt Nam. Dự kiến kim ngạch xuất khẩu của ngành dừa cả nước sẽ vượt mốc 1,1 tỷ USD, góp phần cho sự phát triển kinh tế Việt Nam. Riêng tỉnh hiện có hơn 122,87 ngàn hecta dừa, tương đương khoảng 22,66 triệu cây, chiếm hơn 61% diện tích dừa cả nước. Kim ngạch xuất khẩu ngành dừa của tỉnh đã đạt khoảng 500 triệu USD và đang hướng đến mục tiêu 1 tỷ USD trong những năm tới.
Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng ấn tượng là những khó khăn chậm khắc phục. Nguồn nguyên liệu phân tán, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tình trạng chồng lấn vùng đầu tư giữa các doanh nghiệp (DN), thiếu dữ liệu chính xác về diện tích, sản lượng và chất lượng vùng trồng đang làm giảm hiệu quả của cả chuỗi ngành hàng.
Trước yêu cầu đó, Hiệp hội Dừa Việt Nam đã có cuộc làm việc với lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường về ý tưởng xây dựng bản đồ dừa Việt Nam. Ông Cao Bá Đăng Khoa- Phó Chủ tịch Hiệp hội Dừa Việt Nam cho rằng, hiện nay, DN đầu tư vùng nguyên liệu theo nhiều cách khác nhau nhưng thiếu một hệ thống dữ liệu dùng chung. Nhiều nơi xảy ra tình trạng DN này đầu tư nhưng DN khác lại thu mua; hoặc một hộ dân cùng lúc tham gia nhiều chương trình liên kết khác nhau.
“Chúng ta chưa có bức tranh tổng thể về ngành dừa. Không ai biết chính xác từng vùng nguyên liệu đang ở đâu, quy mô bao nhiêu, DN nào đầu tư, vùng nào đạt chuẩn hữu cơ, vùng nào sắp hết hạn chứng nhận. Điều này gây lãng phí nguồn lực rất lớn”, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dừa Việt Nam nhận định.
Theo đề xuất của Hiệp hội Dừa Việt Nam, bản đồ số sẽ tích hợp website và ứng dụng di động, cho phép cập nhật thông tin vùng nguyên liệu, hộ dân, DN liên kết, tình trạng chứng nhận hữu cơ, mã số vùng trồng, sản lượng dự kiến và truy xuất nguồn gốc. Hệ thống còn có khả năng cảnh báo tự động khi xảy ra chồng lấn vùng nguyên liệu.
Kiểm soát vùng nguyên liệu dừa hữu cơ
Phó Chủ tịch Hiệp hội Dừa Việt Nam Cao Bá Đăng Khoa nhấn mạnh mục tiêu lớn hơn là xây dựng vùng nguyên liệu dừa hữu cơ có kiểm soát. Theo đó, toàn bộ dữ liệu từ sản xuất, thu mua, chứng nhận, chế biến đến xuất khẩu sẽ được số hóa và kết nối trên cùng một nền tảng. Đây là chìa khóa để nâng cao vị thế ngành dừa Việt Nam trên thị trường thế giới.
![]() |
| Du khách thú vị check mã xem thông tin về cây dừa, tại phường Phú Khương. |
Một trong những lợi ích lớn nhất của bản đồ dừa là giúp nâng cao giá trị trái dừa thông qua minh bạch hóa nguồn gốc. Hiện tỉnh đã có hơn 30,7 ngàn hecta dừa hữu cơ được chứng nhận quốc tế và 222 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu dừa tươi sang Trung Quốc. Tuy nhiên, việc quản lý vẫn chủ yếu thực hiện bằng hồ sơ hành chính và dữ liệu phân tán.
Khi dữ liệu được số hóa, từng vùng nguyên liệu sẽ có “hồ sơ điện tử” riêng. DN có thể truy xuất toàn bộ quá trình sản xuất, chứng nhận và sản lượng. Nhà nhập khẩu quốc tế dễ dàng kiểm chứng nguồn gốc nguyên liệu.
Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Dừa Việt Nam, hiện nay, khách hàng quốc tế không chỉ mua sản phẩm mà còn mua sự minh bạch. Nếu một nhà nhập khẩu tại châu Âu hay Mỹ có thể mở hệ thống và nhìn thấy chính xác vùng nguyên liệu của chúng ta. Đó là lợi thế cạnh tranh rất lớn. Không dừng lại ở đó, cơ sở dữ liệu tập trung còn giúp dự báo sản lượng, cân đối cung cầu, hạn chế tình trạng thiếu nguyên liệu cục bộ khiến DN phải nhập khẩu dừa từ nước ngoài như thời gian qua. Cụ thể, trong năm 2025, toàn tỉnh đã phải nhập khoảng 30 triệu trái dừa công nghiệp để phục vụ chế biến.
Bản đồ vùng nguyên liệu dừa hữu cơ sẽ thống kê rõ vùng dừa nguyên liệu, vùng dừa uống nước; xác định ranh giới từng vùng; cập nhật đơn vị đầu tư; tình trạng chứng nhận hữu cơ; thời gian khảo sát, đánh giá và thời hạn hiệu lực của từng chứng nhận. Công nghệ flycam, drone sẽ được sử dụng để quét hình ảnh diện rộng, bảo đảm dữ liệu được cập nhật liên tục.
Theo PGS.TS Lâm Văn Tân- Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc hình thành bản đồ số ngành dừa là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh ngành dừa đang bước vào giai đoạn phát triển mới. “Muốn đạt mục tiêu xuất khẩu 1 tỷ USD trước hết phải quản lý tốt vùng nguyên liệu. Chúng ta không thể phát triển ngành dừa bằng những số liệu ước lượng như trước đây. Phải biết rõ vùng nào đang sản xuất hữu cơ, vùng nào đủ điều kiện cấp mã số, vùng nào có thể mở rộng để phục vụ chế biến và xuất khẩu”, PGS.TS Lâm Văn Tân nhấn mạnh.
Hướng tới “hệ sinh thái số” của ngành dừa
Theo ông Trần Văn Út Tám- Phó Giám đốc Sở KH-CN, tầm nhìn của dự án xây dựng bản đồ dừa hữu cơ Việt Nam không nên dừng ở việc số hóa diện tích mà cần tiến tới số hóa từng cây dừa. “Trong tương lai, chúng ta có thể quản lý tuổi cây, giống cây, năng suất, lịch sử chăm sóc và khả năng sinh trưởng. Khi đó, ngành dừa sẽ bước sang giai đoạn quản trị hoàn toàn mới dựa trên dữ liệu”, ông Tám cho biết.
Ông Trần Văn Út Tám cho rằng, ý tưởng này cũng tương đồng với kinh nghiệm của Philippines- quốc gia có ngành dừa phát triển hàng đầu thế giới. Tại đây, cây dừa được quản lý theo từng nhóm tuổi để phục vụ kế hoạch tái canh, nâng cao năng suất và duy trì nguồn nguyên liệu ổn định.
Theo lộ trình đề xuất xây dựng bản đồ dừa Việt Nam, giai đoạn 2026- 2028 sẽ hoàn thiện dữ liệu vùng nguyên liệu tại các tỉnh trọng điểm ĐBSCL, gồm: Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau và An Giang, với quy mô khoảng 160 ngàn hecta. Đến năm 2030, sẽ mở rộng ra các tỉnh miền Đông Nam Bộ và cả nước. Khi hoàn thành, bản đồ dừa hoàn toàn có thể trở thành cơ sở dữ liệu quốc gia của ngành dừa Việt Nam.
Khi mỗi vùng dừa được định vị trên không gian số, mỗi hộ dân có một hồ sơ sản xuất điện tử và mỗi trái dừa đều có thể truy xuất nguồn gốc, ngành dừa Việt Nam sẽ có thêm một “tấm hộ chiếu số” để tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bài, ảnh: CẨM TRÚC



