Nghị quyết Đại hội I Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2025-2030 đề ra chỉ tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân đạt 10%, đồng thời xác định một trong các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trên lĩnh vực kinh tế là “đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng dựa chủ yếu vào khoa học- công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”.
Từ đó cho thấy cơ cấu kinh tế của tỉnh giai đoạn 2026-2030 cần phải chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng khu vực nông- lâm- thủy sản (khu vực I), tăng tỷ trọng công nghiệp- xây dựng (khu vực II) và dịch vụ (khu vực III).
![]() |
| Biểu đồ cơ cấu kinh tế năm 2025 của tỉnh và cả nước. |
“Trụ đỡ” nền kinh tế
Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, cơ cấu kinh tế của tỉnh khu vực I 23,86%, khu vực II 34,66%, khu vực III 37,33%, thuế sản phẩm 4,15%. Nếu lấy kết quả đạt được của năm 2025 làm điểm xuất phát của giai đoạn 2026-2030 (với GRDP tăng 5,84% và cơ cấu kinh tế tỷ trọng khu vực I 32,65%, khu vực II 25,37%, khu vực III 37,10% và thuế sản phẩm 4,55%), thì điểm khác biệt rõ nét biểu hiện ở tỷ trọng khu vực I giảm dần và khu vực II tăng dần, còn lại khu vực III và thuế sản phẩm tương đương.
Đặt trong bối cảnh GDP cả nước năm 2025 tăng trưởng khá, đạt 8,02%, cơ cấu kinh tế với khu vực I 11,64%, khu vực II 37,65%, khu vực III 42,75% và thuế sản phẩm 7,96%, qua đó cho thấy cơ cấu kinh tế tỉnh vẫn còn khá lạc hậu, tỷ trọng khu vực I còn cao, ngay cả khi đạt mục tiêu đề ra vào năm 2030.
Điều này lý giải vì sao GRDP của tỉnh năm 2025 chỉ đạt mức trung bình, do cơ cấu kinh tế còn phụ thuộc vào các ngành có giá trị gia tăng thấp, dựa nhiều vào nông nghiệp và công nghiệp chế biến với quy mô nhỏ, chịu tác động của thời tiết, biến động giá đầu vào và thị trường tiêu thụ.
Đối chiếu với khu vực ĐBSCL năm 2025 tăng trưởng GRDP đạt 7,24%, thấp hơn các vùng khác nhưng khá ổn định, ít có sự đột phá do phần lớn hoạt động kinh tế cơ bản gắn với phát triển nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ logistics nội vùng. Đây cũng là nét đặc trưng có tính tương đồng của các tỉnh khu vực, do xuất phát điểm là nông nghiệp.
Do vậy, khu vực I hiện có tỷ trọng lớn cơ cấu kinh tế tỉnh, trước mắt và tương lai gần, vẫn là “trụ đỡ” của nền kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội.
Trong bối cảnh không gian mới mở rộng, khu vực I của tỉnh hiện còn nhiều dư địa để khai thác, chuyển đổi nội bộ ngành theo hướng tập trung phát triển các lĩnh vực, sản phẩm có tiềm năng, lợi thế, chứa hàm lượng công nghệ cao, có sức cạnh tranh và giá trị gia tăng. Tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, xanh (lúa, dừa, trái cây, thủy sản...), xây dựng các chuỗi giá trị thích ứng với biến đổi khí hậu...
Đột phá công nghiệp
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP của tỉnh như kỳ vọng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững thì cần tạo sự khác biệt ở khu vực II, đột phá phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Động lực tăng trưởng chủ yếu vẫn là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mở rộng sản xuất gắn với xuất khẩu tại các khu công nghiệp, khu kinh tế. Ngành xây dựng gắn với việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng giao thông, đô thị và xây dựng cơ bản.
Báo cáo đánh giá hoạt động sản xuất công nghiệp của tỉnh năm 2025 cho thấy, ngành vẫn duy trì được đà phát triển, tiếp tục tăng trưởng khá nhờ đơn hàng xuất khẩu ổn định. Dù vậy, từ cuối quý II/2025 thì ngành sản xuất và phân phối điện (chiếm tỷ trọng cao trong toàn ngành công nghiệp) giảm sản lượng, bên cạnh đó một số ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn chi phí sản xuất tăng, đơn hàng giảm... nên giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp chỉ đạt 5,57%. Đối với ngành xây dựng tăng trưởng đạt 7,65%, hoạt động từng bước khôi phục và phát triển khá tích cực, nhiều công trình, dự án lớn của Trung ương đang được triển khai.
Nghị quyết Đại hội I Đảng bộ tỉnh xác định chỉ tiêu giai đoạn 2026-2030 khu vực II là tăng 16,83% (khu vực I 2,77%, khu vực III 10,71% và thuế sản phẩm 5,69%). Nếu so với mức tăng năm 2025 đạt 5,92% thì mục tiêu phấn đấu khá cao, đòi hỏi quyết tâm và nỗ lực rất lớn, huy động tối đa các nguồn lực để tăng tỷ trọng khu vực II trong cơ cấu kinh tế.
Theo đó, phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường, tập trung các ngành tỉnh có lợi thế về năng lượng. Sớm hoàn chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trên cơ sở đó rà soát, điều chỉnh quy hoạch và phát triển các khu, cụm công nghiệp hiện đại, khu kinh tế, các vùng động lực ven biển, hướng đến hình thành trung tâm sản xuất năng lượng tái tạo của cả nước.
Trong bối cảnh đầu tư tư nhân và FDI còn gặp không ít khó khăn, đầu tư công tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng GRDP của tỉnh. Do đó, cần sử dụng vốn đầu tư công theo hướng tập trung, trọng điểm, ưu tiên cho các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, logistics, đô thị, năng lượng, khoa học- công nghệ và chuyển đổi số. Khi nguồn lực đầu tư đủ mạnh và triển khai các công trình, dự án quy mô lớn, khu vực II sẽ đóng vai trò quan trọng cơ cấu kinh tế, tạo sự lan tỏa tích cực sang khu vực I và khu vực III.
Triển vọng khu vực III
Với mục tiêu tăng trưởng bình quân 10,71% và chiếm tỷ trọng 37,33% cơ cấu kinh tế, tương đương với kết quả đạt được năm 2025 (tăng 8,28% và tỷ trọng 37,10%) và cả nước (tăng 8,62% và tỷ trọng 42,75%), cho thấy khu vực III phát triển ổn định, khẳng định vị trí lớn nhất trong GRDP của tỉnh.
Khu vực III đã phát huy được lợi thế của bối cảnh mới, tạo động lực tăng trưởng cho kinh tế. Sự liên kết về không gian kinh tế, hạ tầng và thị trường giữa các địa phương giúp mở rộng quy mô, thúc đẩy hoạt động thương mại, vận tải du lịch phát triển mạnh mẽ.
Định hướng tới, cơ cấu lại ngành dịch vụ theo hướng hiện đại, chất lượng cao, có giá trị gia tăng, dựa trên nền tảng công nghệ số, phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế. Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến thương mại các sản phẩm có tính cạnh tranh cao, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cùng với phát triển thương mại và dịch vụ, cần tổ chức, sắp xếp lại hoạt động du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả.
Tập trung khai thác thế mạnh về cây dừa, cây ăn trái miệt vườn, hoa kiểng, nghỉ dưỡng ven sông, biển kết hợp bảo vệ rừng và hệ sinh thái. Phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng NTM, chương trình OCOP gắn với du lịch cộng đồng, các làng nghề truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Khmer, di tích lịch sử- văn hóa, ẩm thực của địa phương...
Với vị thế “đắc địa” nằm án ngữ trên các con sông lớn của ĐBSCL và bờ biển 130km, khi hệ thống hạ tầng giao thông nội tỉnh và liên kết vùng hoàn chỉnh, tỉnh trở thành “luồng đi, bãi đậu” của cả khu vực. Thương mại, dịch vụ và du lịch phát triển, tạo thêm nhiều việc làm, nhất là khu vực nông thôn, trở thành kênh quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ nông sản địa phương.
Từ đó, từng bước cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập bình quân của người dân (năm 2025 đạt 82,25 triệu đồng/người), từng bước thu hẹp khoảng cách với bình quân chung cả nước (125,5 triệu đồng/ người), hướng tới mục tiêu đạt 169,46 triệu đồng/người vào năm 2030 như Nghị quyết Đại hội I Đảng bộ tỉnh đề ra.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại để tạo động lực cho tăng trưởng GRDP nhanh, bền vững trong giai đoạn phát triển mới. Thực tế cho thấy, dù là “trụ đỡ” của nền kinh tế và chiếm tỷ trọng cao cơ cấu kinh tế, khu vực I với nhiều tiềm năng, lợi thế nhưng không thể là mũi “đột phá” do luôn đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức và dễ bị tổn thương trước diễn biến thời tiết, dịch bệnh và thị trường.
Trong khi khu vực II thì không đạt như kỳ vọng, khu vực III trở thành điểm sáng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, có triển vọng phát triển, tăng trưởng ổn định. Về chiến lược lâu dài, khi hội đủ nguồn lực và điều kiện cần thiết, các công trình, dự án trọng điểm được đầu tư và đưa vào sử dụng, khu vực II sẽ giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế tỉnh nhà, tạo nền tảng và động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng GRDP, thu hẹp khoảng cách với các địa phương vùng ĐBSCL và cả nước.
PHONG HÂN


