Chiều 9/12, tham gia phát biểu về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long - Thạch Phước Bình bày tỏ sự đồng thuận với dự thảo Luật và đề xuất thêm một số ý kiến hoàn thiện, tập trung vào bốn nhóm chính sách quan trọng đang được xem xét sửa đổi.
![]() |
| Đại biểu Thạch Phước Bình phát biểu thảo luận tại Hội trường chiều ngày 9/12/2025 (Ảnh: media.quochoi.vn) |
Thứ nhất, đối với sửa đổi khoản 1 Điều 5 về đối tượng không chịu thuế GTGT là sản phẩm nông, lâm, thủy sản chưa chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.
Trước hết, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, làm rõ hơn chính sách miễn thuế đối với sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt trong khâu bán ra và nhập khẩu. Việc bổ sung quy định đối với trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bán các sản phẩm chưa chế biến cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác cũng là cần thiết, phản ánh đúng đặc thù của chuỗi cung ứng nông sản. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi luật thời gian qua, phát sinh nhiều vướng mắc do thiếu định nghĩa và tiêu chí cụ thể thế nào là “sơ chế thông thường”. Các hoạt động như phân loại, bảo quản lạnh, bóc vỏ, sấy khô, hút chân không… vẫn bị cách hiểu khác nhau giữa các địa phương. Điều này dẫn đến không ít tranh chấp về thuế, gây rủi ro cho doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý.
Vì vậy, đại biểu kiến nghị: Một là, bổ sung quy định giao Bộ Tài chính ban hành danh mục và tiêu chí định lượng cụ thể về các hoạt động được coi là sơ chế thông thường, dựa trên thông lệ quốc tế và đặc thù nông sản Việt Nam. Hai là, làm rõ tiêu chí phân biệt giữa sơ chế và chế biến, gắn với giá trị gia tăng, mức độ thay đổi tính chất sản phẩm hoặc ứng dụng công nghệ. Ba là, hoàn thiện quy định về chứng từ chứng minh nguồn gốc và quy trình thu mua nhằm vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, vừa ngăn ngừa gian lận thuế. Việc này sẽ đảm bảo tính minh bạch, thống nhất trên toàn quốc, hạn chế nguy cơ lợi dụng chính sách và tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.
Thứ hai, đối với sửa đổi khoản 5 Điều 9 về thuế suất đối với phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu.
Đề xuất áp dụng thuế suất theo chính loại phế phẩm, phế liệu thu hồi là phù hợp. Trong thực tiễn, nhiều lĩnh vực như dệt may, chế biến gỗ, luyện kim, sản xuất thực phẩm… phát sinh lượng lớn phế liệu. Tuy nhiên, trước đây do chưa có quy định rõ ràng, cơ quan thuế thường áp chung mức thuế 10%, gây khó khăn và thiệt thòi cho doanh nghiệp. Tuy vậy, việc áp dụng thuế suất theo từng mặt hàng cũng đòi hỏi cơ chế hướng dẫn phân loại cụ thể, đặc biệt dựa theo mô tả và mã hóa hàng hóa (HS) và đặc thù vật chất của phế liệu.
Do vậy, đại biểu đề xuất: Một là, ban hành hướng dẫn chi tiết về mã số, tính chất và thuế suất đối với từng nhóm phế liệu, phụ phẩm nhằm tránh tình trạng mỗi địa phương hiểu theo một cách. Hai là, yêu cầu doanh nghiệp xây dựng định mức phế liệu trong sản xuất, lưu trữ hồ sơ rõ ràng phục vụ thanh tra, kiểm tra. Ba là, áp dụng cơ chế quản lý rủi ro thay vì can thiệp thủ công, nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Thứ ba, đối với khoản 3a Điều 14 về khấu trừ thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ không phải tính thuế.
Đây là một thay đổi quan trọng và tiến bộ. Chính sách cho phép khấu trừ toàn bộ thuế đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản phẩm không phải tính thuế GTGT sẽ giảm đáng kể chi phí sản xuất; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp; nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, chính sách này cũng tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để kê khai khấu trừ thuế đầu vào không đúng thực tế hoặc không phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm không chịu thuế.
Do đó, đại biểu kiến nghị: Một là, quy định rõ điều kiện khấu trừ, bao gồm chứng từ, hợp đồng, định mức sử dụng và sự phù hợp giữa đầu vào và đầu ra. Hai là, xác định cơ chế phân bổ thuế đầu vào đối với doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hỗn hợp (vừa chịu thuế, vừa không chịu thuế). Ba là, ứng dụng công nghệ và dữ liệu lớn trong giám sát, giảm tình trạng thanh kiểm tra tràn lan, đồng thời chống gian lận hiệu quả.
Thứ tư, đối với việc bãi bỏ điểm c khoản 9 Điều 15 về điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt trong hoàn thuế.
Đại biểu hoàn toàn đồng tình với việc bãi bỏ quy định này. Thực tiễn cho thấy nhiều giao dịch thu mua nông sản, thủy sản từ hộ gia đình, cá nhân không kinh doanh vẫn chủ yếu thanh toán tiền mặt. Điều kiện bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt gây khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và khu vực nông thôn. Không ít doanh nghiệp bị từ chối hoàn thuế vì vướng quy định này dù giao dịch là thực, hợp pháp. Tuy nhiên, bãi bỏ điều kiện này cũng đòi hỏi cơ chế phòng ngừa rủi ro như kiểm soát hóa đơn đầu vào, xác minh nguồn gốc hàng hóa, xây dựng cơ chế lưu trữ hồ sơ và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp.
Thứ năm, về thời điểm hiệu lực thi hành.
Qua nghiên cứu và đối chiếu với yêu cầu thực tiễn, đại biểu nhận thấy việc quy định hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026 là chưa thật sự phù hợp trong bối cảnh doanh nghiệp và cơ quan quản lý đang cần thêm thời gian để chuẩn bị các điều kiện triển khai. Vì vậy, đại biểu đề nghị xem xét điều chỉnh thời điểm có hiệu lực thi hành của Luật muộn hơn, cụ thể là từ ngày 1/7/2026. Mốc thời gian này vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, vừa bảo đảm đủ quỹ thời gian để các chủ thể liên quan chuẩn bị đầy đủ về kỹ thuật, nghiệp vụ và nguồn lực.
Để Luật được triển khai đồng bộ và hiệu quả, đại biểu kiến nghị một số nội dung: Một là, khẩn trương hoàn thiện và ban hành nghị định, thông tư hướng dẫn ít nhất 3 - 4 tháng trước thời điểm Luật có hiệu lực, bảo đảm tính rõ ràng, thống nhất và khả thi trong áp dụng. Hai là, tổ chức các chương trình tập huấn, phổ biến chính sách cho doanh nghiệp, hợp tác xã, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản - những nhóm chịu tác động trực tiếp của các sửa đổi. Ba là, rà soát, nâng cấp hệ thống phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử và quy trình nghiệp vụ của cơ quan thuế cũng như doanh nghiệp, nhằm kịp thời đáp ứng các yêu cầu của chính sách mới. Với những bước chuẩn bị nêu trên, đại biểu cho rằng việc đưa Luật vào thực tiễn từ ngày 1/7/2026 sẽ bảo đảm phù hợp với nhu cầu thực tế và khả thi trong tổ chức thực hiện.
KIẾN QUỐC (ghi)



Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin