Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu lấy sản phẩm và thương mại hóa làm thước đo hiệu quả, chuyển mạnh từ quản lý theo thủ tục sang quản lý theo kết quả đầu ra, với doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: Chinhphu.vn/TG |
Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: Chinhphu.vn/TG
Ngày 10/8, Bộ KH&CN tổ chức Hội nghị phổ biến các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026, thực hiện giai đoạn 2026-2035, do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì quản lý.
Được xây dựng trên cơ sở Nghị quyết 57-NQ/TW và các luật, nghị định liên quan, Chương trình tập trung vào 10 công nghệ và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong các lĩnh vực như công nghệ số, bán dẫn, robot và tự động hóa, sinh học - y sinh, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng, lượng tử, hàng không - vũ trụ và đường sắt tốc độ cao.
Chương trình xác định doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học là lực lượng nòng cốt, thúc đẩy hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức khoa học, công nghệ.
Giai đoạn 2026-2030, mục tiêu là làm chủ ít nhất 4 công nghệ, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm, trong đó 5 sản phẩm tại thị trường khu vực hoặc quốc tế. Giai đoạn 2031-2035, các mục tiêu này lần lượt nâng lên 6 công nghệ và 25 sản phẩm.
Thông tư số 48/2026/TT-BKHCN quy định trình tự xét tài trợ, đặt hàng, thẩm định, phê duyệt tổ chức chủ trì, kinh phí và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược.
Nhiệm vụ có thể được tổ chức dưới dạng nhiệm vụ đơn lẻ, cụm nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ liên kết. Mỗi nhiệm vụ được cấp mã số riêng; nội dung thực hiện được chia thành các gói công việc và mốc đánh giá, xác định rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu kỹ thuật, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm của tổ chức chủ trì.
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định nhấn mạnh 3 yêu cầu: quản lý theo kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục; bắt đầu từ bài toán thực tế thay vì đề xuất nhiệm vụ; kết quả được đo bằng năng lực làm chủ công nghệ và sản phẩm ứng dụng thực tế.
Theo cách tiếp cận này, nhiệm vụ được chia theo từng gói công việc, gắn với các mốc đánh giá; tăng quyền tự chủ chuyên môn, bảo đảm thù lao phù hợp cho nhà khoa học và từng bước quản lý trên môi trường số, giảm hồ sơ, báo cáo giấy.
Nguồn lực đi theo kết quả
Đại diện Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted) cho biết cơ chế tài chính cho nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược được thiết kế theo hướng nguồn lực đi theo gói công việc, mốc đánh giá và kết quả đầu ra, đồng thời tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% đối với công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, công nghệ có ý nghĩa quan trọng với năng lực tự chủ quốc gia, quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ có rủi ro cao.
Đối với sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, mức hỗ trợ tối đa 70%; phần còn lại do tổ chức chủ trì và các bên tham gia đối ứng.
Kinh phí đối ứng có thể gồm tiền, nhân lực, thiết bị, hạ tầng, tài sản trí tuệ và các nguồn lực hợp pháp trực tiếp phục vụ nhiệm vụ. Dự toán được lập theo từng gói công việc, xác định mục tiêu, sản phẩm, kinh phí, trách nhiệm và thời gian thực hiện.
Đáng chú ý, Hội đồng đánh giá tại từng mốc; nếu đạt yêu cầu, nhiệm vụ được thanh toán và cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo. Cơ chế này tăng quyền tự chủ về kinh phí, mua sắm và phương án nghiên cứu, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về minh bạch, giám sát rủi ro và trách nhiệm giải trình.
Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ


