Xử lý khó khăn trong lập, phân bổ, giao dự toán cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ ngày 25-31/7/2026.
![]() |
Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045 (Đề án).
Mục tiêu tổng quát của Đề án là xây dựng thị trường tài chính Việt Nam phát triển đồng bộ, hiện đại và hội nhập với khu vực và thế giới; có cấu trúc cân đối, hợp lý, có khả năng huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội; phát huy vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế; là động lực để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, liên tục đến năm 2045.
Phấn đấu đến năm 2045 thị trường tài chính Việt Nam có trình độ phát triển cao, vận hành theo nguyên tắc thị trường, có hệ thống thể chế, hạ tầng, sản phẩm, nhà đầu tư và cơ chế quản lý giám sát đạt chuẩn quốc tế; trong đó thị trường chứng khoán giữ vai trò trọng yếu, hệ thống ngân hàng phát triển an toàn, hiện đại, thị trường bảo hiểm phát triển bền vững; Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam từng bước trở thành cấu phần quan trọng trong kết nối dòng vốn, dịch vụ tài chính và các định chế tài chính trong khu vực.
Việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Về nguyên tắc đơn giản hóa thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, Nghị quyết nêu rõ, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm, giảm thời gian, giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục hành chính, không phát sinh thủ tục hành chính mới, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, bảo đảm công khai, minh bạch, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất, đóng gói sản phẩm cây trồng.
Thực hiện thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, truy xuất nguồn gốc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỉ thực hiện tiền kiểm đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Chính sách của nhà nước về phát triển tổ hợp tác
Chính phủ ban hành Nghị định 294/2026/NĐ-CP về tổ hợp tác, trong đó quy định cụ thể các chính sách của nhà nước về phát triển tổ hợp tác.
Nghị định quy định tổ hợp tác được xem xét thụ hưởng chính sách của Nhà nước khi đáp ứng các tiêu chí sau:
1- Có Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác;
2- Không trong thời gian thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính do vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15;
3- Đáp ứng một trong các tiêu chí sau tại thời điểm nộp đơn đăng ký nhu cầu hỗ trợ:
a) Trong 02 năm liền kề trước năm nộp đơn đăng ký nhu cầu hỗ trợ, có ít nhất 01 năm số lượng thành viên tăng so với năm trước đó;
b) Có thành viên, người lao động được tham gia các lớp giáo dục, đào tạo, phổ biến, bồi dưỡng, tập huấn do tổ hợp tác tự tổ chức hoặc do các tổ chức khác tổ chức và có giấy tờ xác nhận;
c) Thành lập không quá 60 tháng tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
4- Trường hợp nhiều tổ hợp tác cùng đáp úng quy định tại 1, 2, 3 ở trên, việc lựa chọn tổ hợp tác thụ hưởng chính sách được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Số lượng thành viên nhiều hơn;
b) Số lượng thành viên là người khuyết tật nhiều hơn;
c) Số lượng thành viên là đồng bào dân tộc thiểu số nhiều hơn;
d) Số lượng thành viên, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện nhiều hơn;
đ) Có phụ nữ làm quản lý, có nhiều thành viên là nữ hoặc sử dụng nhiều lao động nữ hơn;
e) Hoạt động tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;
g) Tham gia liên kết hình thành chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành, gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi số vì mục tiêu phát triển bền vững;
h) Tổ chức hoặc tham gia các hoạt động lợi ích cộng đồng dân cư.
Tổ hợp tác đáp ứng các tiêu chí quy định ở trên được hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước như các hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã phù hợp với tính chất, đặc điểm của tổ hợp tác và pháp luật khác có liên quan.
Điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập
Chính phủ ban hành Nghị định số 299/2026/NĐ-CP ngày 28/7/2026 quy định tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập.
Nghị định quy định đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập khi đáp ứng các điều kiện sau:
a) Phù hợp với quy hoạch ngành (nếu có) hoặc phương án phát triển mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Đáp ứng tiêu chí, điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành (trừ đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn cấp xã);
c) Xác định rõ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập;
d) Đảm bảo số lượng người làm việc tối thiểu được giao là 15 người (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu được thành lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành).
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, khi thành lập các đơn vị này thì số lượng người làm việc được xác định theo đề án thành lập được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài thì số lượng người làm việc xác định trong đề án thành lập đơn vị sự nghiệp công lập được phê duyệt;
đ) Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài, ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b, c và d khoản này, cần bảo đảm phù hợp với chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và điều ước quốc tế giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước sở tại về việc thành lập và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.
![]() |
Quy định về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
Chính phủ ban hành Nghị định số 295/2026/NĐ-CP quy định về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Nghị định quy định Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác được cấp cho tổ hợp tác. Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã được cấp cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh được cấp cho chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Nghị định nêu rõ trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là Ủy ban nhân dân cấp xã.
Từ 01/9/2026, trẻ dưới 6 tuổi được làm thẻ căn cước ngay trong quy trình khai sinh liên thông
Nghị định số 301/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã bổ sung quy định (tại khoản 3a trước khoản 3 Điều 8 Nghị định số 63/2024/NĐ-CP ngày 10/6/2024) về việc cấp thẻ căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi khi người yêu cầu có đề nghị cấp thẻ căn cước cho trẻ trong quy trình liên thông nhóm thủ tục "Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế", trong đó quy định về trình tự, cách thức chuyển dữ liệu điện tử giữa Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp, Hệ thống thông tin quản lý cư trú và Hệ thống cấp, sản xuất và quản lý căn cước…
Xử lý khó khăn trong lập, phân bổ, giao dự toán cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.24/2026/NQ-CP ngày 26/7/2026 về xử lý khó khăn, vướng mắc trong quy định về lập, phân bổ và giao dự toán chi sự nghiệp cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết này quy định về xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc lập dự toán kinh phí cho chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng năm, kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập và việc phân bổ, giao dự toán cho nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa thành lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định tại điểm d, đ khoản 2 và điểm e khoản 3 Điều 63 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và thu hút đầu tư trong lĩnh vực văn hóa số
Tại Nghị định số 277/2026/NĐ-CP, Chính phủ quy định cụ thể chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và thu hút đầu tư trong lĩnh vực văn hóa số.
Nghị định nêu rõ: Doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, phát triển công nghệ số, sản phẩm công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số quy định tại Điều 13 và Điều 14 nêu trên được hưởng ưu đãi, hỗ trợ như sau:
a) Được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đầu tư, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, công nghiệp công nghệ số, chuyển đổi số và pháp luật có liên quan khi đáp ứng điều kiện, tiêu chí tương ứng theo quy định của pháp luật.
b) Được tham gia vào các sáng kiến, chương trình hỗ trợ theo quy định
Quy định mới về chức năng, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Chính phủ ban hành Nghị định số 298/2026/NĐ-CP ngày 27/7/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Theo quy định, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; báo chí; xuất bản, in, phát hành; thông tin điện tử; thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.
Ban hành Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em giai đoạn 2026-2030
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1415/QĐ-TTg ngày 28/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030 (Chương trình).
Mục tiêu của Chương trình nhằm bảo đảm mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh; giảm thiểu trẻ em bị xâm hại trên phạm vi cả nước và tạo cơ hội cho trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật (sau đây gọi là lao động trẻ em), trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác được hòa nhập, phát triển toàn diện góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến trẻ em.
Nâng cao phòng ngừa, đấu tranh lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới
Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 30/CT-TTg yêu cầu các Bộ ngành, địa phương tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chủ trương của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản; xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên gắn với công tác bảo đảm an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội; không để hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp, hình thành điểm, tụ điểm hoạt động lừa đảo tại địa bàn, lĩnh vực quản lý.
Đồng thời, chủ động rà soát, khắc phục sơ hở, bất cập trong công tác quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ để tội phạm lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là viễn thông, ngân hàng, trung gian thanh toán, thương mại điện tử, quản lý đất đai, đầu tư, chứng khoán, bảo hiểm, y tế, giáo dục, du lịch, việc làm; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước, phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản…
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo
Chính phủ ban hành Nghị định 297/2026/NĐ-CP ngày 24/7/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: Công tác dân tộc; tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ theo quy định của pháp luật.
Theo baochinhphu.vn



