Cận thị học đường gia tăng: Phát hiện sớm để kiểm soát hiệu quả

13:23, 20/10/2026

Tỷ lệ học sinh, sinh viên mắc các tật khúc xạ như cận thị, loạn thị và viễn thị có xu hướng gia tăng tại Việt Nam trong những năm gần đây. Đặc biệt, cận thị học đường đang trở thành một vấn đề sức khỏe đáng báo động.

Khám mắt cho học sinh trên địa bàn Hà Nội. (Ảnh: THANH XUÂN)
Khám mắt cho học sinh trên địa bàn Hà Nội. (Ảnh: THANH XUÂN)

Đừng chờ trẻ nhìn kém mới đi khám mắt
Khảo sát của Bệnh viện Mắt Trung ương cho thấy, tại Hà Nội có khoảng 50% trẻ trong lứa tuổi học sinh mắc tật khúc xạ, trong đó tỷ lệ cận thị xấp xỉ 37,5%. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ tật khúc xạ ở một số nơi được ghi nhận lên tới 75% học sinh, với tỷ lệ cận thị chiếm khoảng 37%.

Theo Bác sĩ Trần Khánh Sâm, Khoa Khúc xạ, Bệnh viện Mắt Trung ương, hiện nay tật khúc xạ ở trẻ em và thanh thiếu niên đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt là cận thị.

Lý giải xu hướng này, bác sĩ Sâm cho biết, cận thị gia tăng có liên quan nhiều yếu tố môi trường sống và học tập hiện nay. Trẻ dành ngày càng nhiều thời gian cho các thiết bị điện tử như điện thoại, máy tính; gia tăng các hoạt động nhìn gần, áp lực học tập cao, trong khi thời gian vui chơi và hoạt động ngoài trời giảm.

Điều kiện ánh sáng không phù hợp trong quá trình học tập, đọc sách hoặc sử dụng thiết bị điện tử cũng có thể góp phần làm gia tăng nguy cơ.

Đại dịch Covid-19 càng làm rõ những yếu tố này khi trẻ phải dành nhiều thời gian học trực tuyến, giảm hoạt động ngoài trời và tăng các hoạt động nhìn gần như đọc sách, sử dụng máy tính, điện thoại, xem tivi hoặc chơi game.

Theo bác sĩ Trần Khánh Sâm, một trong những thách thức lớn hiện nay là tỷ lệ cận thị ở trẻ em cao trong khi các yếu tố nguy cơ ngày càng phổ biến. Sự phát triển nhanh chóng của các thiết bị điện tử, thời gian nhìn gần kéo dài, áp lực học tập và thiếu hoạt động ngoài trời đang tạo ra môi trường thuận lợi cho cận thị gia tăng.

Trong khi đó, nhận thức của phụ huynh và học sinh về phòng ngừa, phát hiện và kiểm soát cận thị vẫn còn hạn chế. Nguồn lực dành cho công tác sàng lọc, theo dõi và quản lý tật khúc xạ học đường cũng là một thách thức.

Theo các chuyên gia, trẻ mắc cận thị nặng nếu không được chỉnh kính hoặc quản lý tốt có thể dẫn đến các bệnh lý nguy hiểm gây suy giảm thị lực không thể phục hồi như bệnh glôcôm, bong võng mạc, hoặc bệnh hoàng điểm. Chính vì vậy, việc kiểm soát cận thị cần được thực hiện từ sớm, thay vì chỉ chờ đến khi trẻ nhìn kém mới đưa đi khám.

Khám mắt định kỳ, phát hiện sớm tật khúc xạ, sử dụng kính phù hợp và xây dựng thói quen sinh hoạt lành mạnh cho trẻ có vai trò quan trọng trong quản lý cận thị.

Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã xác định quan điểm xuyên suốt: “Lấy phòng bệnh làm ưu tiên hàng đầu”, chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời. Trong tổng thể đó, thị lực - “cửa sổ” đưa con người đến với tri thức và thế giới, chính là một cấu phần không thể tách rời của sức khỏe và năng lực làm việc của mỗi người, trước hết là của thế hệ trẻ.

Thế nhưng, những con số mà ngành nhãn khoa công bố cho thấy cận thị trẻ em đang vượt ra ngoài phạm vi của một vấn đề chuyên khoa. Cận thị ngày càng được nhìn nhận như một vấn đề sức khỏe cộng đồng, đòi hỏi sự phối hợp giữa ngành y tế, giáo dục, gia đình, nhà trường và cộng đồng trong phát hiện, theo dõi và can thiệp sớm.

Theo cảnh báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nếu không có các biện pháp can thiệp và phòng ngừa hiệu quả, đến năm 2050, tỷ lệ trẻ em Việt Nam mắc cận thị có thể lên tới 90%.

WHO khuyến cáo, nếu không có các biện pháp can thiệp và phòng ngừa hiệu quả, đến năm 2050, tỷ lệ trẻ em Việt Nam mắc cận thị có thể lên tới 90%. (Ảnh: THÁI BÌNH)
WHO khuyến cáo, nếu không có các biện pháp can thiệp và phòng ngừa hiệu quả, đến năm 2050, tỷ lệ trẻ em Việt Nam mắc cận thị có thể lên tới 90%. (Ảnh: THÁI BÌNH)

Nhiều giải pháp đồng bộ để kiểm soát tật khúc xạ học đường
Ở góc độ cơ quan quản lý, Tiến sĩ, bác sĩ, Thầy thuốc Ưu tú Bùi Hữu Toàn, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho biết, để giải quyết vấn đề tật khúc xạ của trẻ em, học sinh, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và bản thân học sinh, sinh viên và sự vào cuộc của các cấp chính quyền, ngành y tế, ngành giáo dục.

Cụ thể, đối với các cấp chính quyền, ngành y tế, giáo dục, trước hết cần phải hoàn thiện về chính sách. Theo ông Toàn, công tác phòng bệnh trong cơ sở giáo dục đã được đưa vào Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15 và Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 165/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh; Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035, trong đó giao Bộ Y tế rà soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng các hướng dẫn chuyên môn về y tế trong chăm sóc sức khỏe người học.

Theo đó, Bộ Y tế xây dựng các hướng dẫn kiểm tra, khám sức khỏe học sinh trong đó có việc kiểm tra thị lực, đưa khám các bệnh về mắt vào nội dung kiểm tra/khám sức khỏe định kỳ cho học sinh hằng năm nhằm phát hiện sớm học sinh bị tật khúc xạ, suy giảm thị lực hoặc các tình trạng bệnh mắt khác.

Đồng thời, xây dựng, ban hành và chuẩn hóa các hướng dẫn quốc gia về chăm sóc mắt học đường phù hợp để làm cơ sở phát triển các tài liệu tập huấn cho học sinh, giáo viên tại các cơ sở giáo dục từ mầm non đến trung học phổ thông. Hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang phối hợp Bộ Y tế triển khai Dự án “Lồng ghép chăm sóc mắt trong Chương trình y tế học đường” trong đó có nội dung chuẩn hóa tài liệu hướng dẫn chăm sóc mắt học đường phù hợp từng cấp học.

Cùng với đó, các cơ quan chức năng cần đưa các chỉ số theo dõi bệnh, tật về mắt vào sổ sức khỏe điện tử liên thông với hệ thống dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm phục vụ công tác quản lý, đánh giá và hoạch định chính sách.

Tiếp đến, các bên liên quan cũng cần chú trọng nâng cao năng lực cho người làm công tác y tế trường học. Cụ thể, đào tạo cho đội ngũ giáo viên, nhân viên y tế trường học và các cán bộ phụ trách công tác y tế học đường về kỹ năng sàng lọc thị lực, phát hiện sớm các bệnh mắt thường gặp, tư vấn ban đầu và tư vấn chuyển tuyến; Xây dựng hệ thống đào tạo trực tuyến về chăm sóc mắt học đường, giúp giáo viên và nhân viên y tế trường học dễ dàng tiếp cận kiến thức cập nhật, giảm chi phí đào tạo và bảo đảm tính bền vững.

Ngoài các giải pháp nêu trên, ngành y tế và ngành giáo dục phối hợp triển khai khám, phát hiện, tư vấn điều trị và chuyển tuyến khám chuyên khoa bệnh, tật về mắt; Khuyến khích sử dụng các nền tảng số trong quản lý, báo cáo, giám sát và đánh giá kết quả triển khai chăm sóc mắt học đường; Rà soát, cải tạo và nâng cấp hệ thống chiếu sáng trong phòng học, bảo đảm đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh trường học; Trang bị bàn ghế phù hợp với chiều cao và lứa tuổi học sinh, góp phần duy trì tư thế ngồi học đúng và hạn chế các yếu tố nguy cơ gây cận thị.

Khuyến khích các trường học bố trí không gian học tập, vui chơi ngoài trời hợp lý nhằm tăng cường thời gian tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên. Bảo đảm tối thiểu học sinh tham gia các hoạt động ngoài trời 2 giờ/ngày theo khuyến nghị của Viện nghiên cứu cận thị thế giới IMI.

Các cơ quan chức năng cũng cần lồng ghép nội dung chăm sóc mắt vào chương trình giáo dục chính khóa và các hoạt động giáo dục ngoại khóa. Có chính sách hỗ trợ các đối tượng ưu tiên như huy động tài trợ hỗ trợ kính miễn phí hoặc trợ giá cho học sinh mắc tật khúc xạ có hoàn cảnh khó khăn, học sinh dân tộc thiểu số, học sinh khuyết tật và các nhóm yếu thế khác; Triển khai các mô hình chăm sóc mắt học đường vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn. Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa ngành giáo dục và ngành y tế trong việc xây dựng kế hoạch, hướng dẫn chuyên môn, tổ chức sàng lọc, chuyển tuyến, theo dõi và đánh giá kết quả chăm sóc mắt học đường.

Phát huy vai trò của trạm y tế xã/phường/đặc khu và cơ sở y tế địa phương trong việc phối hợp nhà trường thực hiện kiểm tra/khám sức khỏe, sàng lọc thị lực, quản lý học sinh có bệnh về mắt và hỗ trợ chuyển tuyến khi cần thiết. Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp và các cơ sở khám, chữa bệnh nhằm huy động nguồn lực tài chính, kỹ thuật và chuyên môn để hỗ trợ triển khai các chương trình chăm sóc mắt học đường, đặc biệt tại các địa bàn khó khăn…

Đối với trẻ em, học sinh và gia đình, theo ông Toàn, để hạn chế tật khúc xạ, trước hết cần nâng cao nhận thức về chăm sóc mắt. Theo đó, mỗi học sinh cần xây dựng thói quen học tập khoa học; cần ngồi học đúng tư thế, giữ khoảng cách từ mắt đến sách khoảng 30–35cm, bảo đảm ánh sáng đầy đủ và nghỉ ngơi hợp lý. Có thể áp dụng quy tắc 20-20-20: cứ sau khoảng 20 phút nhìn màn hình thiết bị điện tử, trẻ nghỉ ít nhất 20 giây và tập trung mắt vào một vật cách xa hơn 20 feet (khoảng 6m) để giúp mắt thư giãn.

Các em học sinh nên hạn chế thời gian sử dụng thiết bị điện tử. Chỉ sử dụng điện thoại, máy tính khi thật sự cần thiết; giảm thời gian giải trí bằng màn hình và tránh sử dụng thiết bị điện tử trước khi đi ngủ.

Song song đó, tăng cường hoạt động ngoài trời và rèn luyện thể chất. Dành ít nhất 1-2 giờ mỗi ngày tham gia các hoạt động ngoài trời giúp mắt được điều tiết tự nhiên, đồng thời nâng cao sức khỏe toàn diện.

Đáng chú ý, cần xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý, trong đó tăng cường bổ sung các thực phẩm giàu vitamin A, C, E, omega-3, lutein và kẽm như cà rốt, bí đỏ, rau xanh đậm, cá hồi, trứng, sữa và các loại trái cây tươi.

Tham gia kiểm tra, khám mắt định kỳ để phát hiện sớm các bất thường và có biện pháp điều chỉnh phù hợp. Việc bảo vệ thị lực có ý nghĩa quan trọng bởi đôi mắt khỏe mạnh là nền tảng để trẻ học tập, vui chơi và phát triển toàn diện.

Theo Đỗ Thoa/nhandan.vn 

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh