Những ngày cuối năm, dọn dẹp nhà cửa, những thứ cũ kỹ phai màu thường sẽ được sơn phết lại hoặc bỏ đi, thay mới. Bởi tâm thức người dân xưa nay cho rằng, năm mới, mọi thứ đều phải tươi mới để đón thêm nguồn sinh khí tốt tươi cho một năm thuận lợi. Có lẽ vì thế mà mỗi năm dọn Tết đến trang thờ Mẹ Sanh, Ông Táo... thấy nét chữ Nho thân thuộc, hằn trên tờ biển thờ bằng giấy hồng đơn đã phai bạc màu trắng phếu, lòng tôi bỗng dưng ùa về những cảm xúc nhớ thương, tiếc nuối, bồi hồi da diết...
![]() |
| Tranh minh hoa AI |
Tấm biển thờ đã nhiều năm không thay mới. Nhưng dường như trong từng nét chữ cũng chứa đựng được cả một bầu trời ký ức, lúc nào cảm xúc ùa về cũng mới toanh. Có lẽ khi lớn hơn một tuổi, tôi lại có sự hoài niệm và cảm xúc khác. Nhưng ký ức về tấm biển thờ thì vẫn vẹn nguyên. Tôi như nghe được cả tiếng thanh mực mài trong chiếc nghiên sành; thấy rõ ràng màu đỏ tươi rực mắt của giấy hồng đơn, và thoang thoảng đâu đây cái mùi giấy mực mới thơm lừng suốt mấy mươi năm vẫn còn ngây ngất.
Quê tôi, miền Tây Nam Bộ, cư dân đa số có gốc gác tổ tiên từ miền Trung, đã băng rừng lội suối vào Nam khai mở rừng hoang, tay trắng lấy sức người dựng nên cơ nghiệp. Ngày ấy, tiền nhân phải ngày đêm đương đầu với những khó khăn, thách thức khắc nghiệt của thiên nhiên, chật vật đêm ngày để lo được cái ăn, cái mặc... Tuy nhiên không vì thế mà tinh thần văn hiến, hiếu học, trọng chữ nghĩa của dân vùng đất mới bị mai một, phai mờ. Mặc dù xa kinh kỳ, thiếu trường học và sách vở nhưng bằng mọi giá, với tinh thần truyền thống “hy sinh đời bố để củng cố đời con”, các bậc tiền nhân đã cố chí cho lớp cháu con ăn học thành tài và dựng nên một miền văn hóa hết sức phong phú, hào sảng và nghĩa khí. Trong quá trình hình thành và định danh nên nền văn hóa ấy, “chữ nghĩa” là thứ được các tiền nhân hết sức coi trọng, xem “chữ” thuộc hàng thiêng liêng và đẹp đẽ! Chính vì vậy, ai trong làng mà biết chữ Nho, thì được cả làng hết sức coi trọng. Niềm tự hào ấy trở thành trách nhiệm sống, khiến cho người có chữ cũng tự răn lấy mình phải sống thật mực thước, gương mẫu như lời các thánh hiền đã dạy mới xứng đáng là người có chữ nghĩa trong xã hội.
Chịu ảnh hưởng văn hóa phương Đông, sự giao thoa của “tam giáo đồng nguyên” đã tạo nên nét văn hóa tâm linh của người miền Tây- thờ nhiều vị phúc thần như: Thần Tài, Thổ Địa, Táo Quân, Sơn Thần, Thủy Thần, Thần Nông... Ngoài ra, người theo các nghề thủ công như thợ may, thợ hồ, thợ mộc sẽ thờ Tiên sư, Tổ nghiệp; người theo nghề bói toán thờ Tử vi, người theo nghề tàu ghe, hạ bạc thờ Thủy Thần- Bà Cậu, phụ nữ đến tuổi trung niên thì thượng trang thờ bà Tổ Cô, Mẹ Sanh, Cửu Thiên Huyền Nữ; riêng cánh đàn ông thì thờ Quan Công, Cậu Tài- Cậu Quý... Thuở xưa, khi chưa có điều kiện tiếp xúc với tranh thờ, thì hầu hết người dân đều thờ bằng chữ Nho, đề tên phúc thần và vài câu chúc tụng bằng mực Tàu viết trên tờ giấy hồng đơn. Nét chữ đậm nhạt ấy, thấy vậy mà “có thần”. Người ta nhìn chữ Nho mà thấy cả sự thiêng liêng, cổ kính và sự kết nối vô hình giữa hiện tại với quá khứ, hiện thực và đấng siêu nhiên…
Hồi nhỏ, mỗi năm khi Tết sắp về, tôi đều theo bà nội đến ngôi chùa gần nhà để xin sư thầy Huynh Thành cho chữ. Bà kể, nhà thầy đông anh em và nghèo khó, thầy sinh ra khờ khạo hơn các anh em, chiến tranh loạn lạc nên ba má gửi thầy vào chùa tu để sống qua ngày. Thầy theo sư cụ ban ngày trồng đậu, làm nước tương, tàu hủ, sữa đậu nành đem ra chợ bán. Đêm về sau giờ công phu thì ôn học chữ Nho để Tết đến đi viết biển thờ, liễn đối. Theo sư cụ mấy chục năm, nhưng thầy tự nhận là mình “không biết chữ”:
- Sư cụ dạy sao thì tui “vẽ” lại vậy thôi.
Cứ Tết đến, thầy Huynh Thành lại sắm thêm giấy đỏ, mực, bút. Bà tôi thường đến xin thầy viết cho tấm biển thờ Ông Táo, Mẹ Sanh, Thổ Thần để thay cho tấm năm cũ đã phai, cùng vài câu liễn để treo ngày Tết. Nói đến tờ nào, thầy viết tờ đó, thầy viết theo thói quen, nét nào trước, nét nào sau... chứ thầy không biết tầm nguyên hay chiết tự từng chữ. Mỗi lần hỏi chữ này nghĩa là gì, thầy lại nhớ nhớ quên quên, gãy đầu:
- Chim chích mà đậu cành tre. Thập trên, tứ dưới, nhất đè chữ… Chữ gì tui quên rồi, để tui hỏi lại sư cụ.
Dân thâm Nho bảo, nói là nói vậy, nhưng thầy viết đúng chữ, không xê dịch một thứ tự nét, không thiếu một vệt mực nào. Thấy vậy, ai ai cũng thương quý thầy!
Có năm nọ, người ta bắt đầu bày bán những tấm biển thờ chữ Nho bằng tranh kiến, liễn đối in nhũ vàng đẹp bắt mắt. Bà tôi đến xin chữ, thầy Huynh Thành nói nhỏ vào tai, “cô qua đó mua giúp bà cụ ấy đi, liễn của bà đẹp hơn tui viết”... Bà nội chỉ cười, nhưng vẫn nhất quyết xin chữ thầy. Thầy thuyết phục không được, thầy cũng cười tươi rồi gò viết thật tỉ mỉ. Hỏi thầy tiền công bao nhiêu, thầy nói giấy mực một trăm đồng. Bà nội tôi gửi thầy một ngàn đồng, thầy không nhận. Thầy bảo, mình chỉ biết đếm tiền từ một trăm đến chín trăm đồng thôi...
Khi lớn hơn, tôi mới nhận ra rằng, người ta tìm đến thầy Huynh Thành xin chữ, không phải vì thầy “bán rẻ”, mà bởi người dân quê tôi nhận ra được sự thanh tịnh, trong sáng và thiêng liêng trong chữ của thầy. Sự thiêng liêng ấy toát lên từ người viết, một sư cụ hiền từ, thật thà chất phác... Dẫu thầy tự nhận mình chỉ vẽ theo nét thôi chứ không biết chữ đâu, nhưng cách thầy gò từng nét sao cho y hệt chữ thầy mình đã dạy. Và có lần, thầy nhớ mình viết sót một nét ngang trong chữ Phúc cho bà cụ xóm trên, thầy đã chân không chạy lẹ đến nhà bà đòi lại cho bằng được, thay bằng một tờ liễn khác, “sư phụ nói, chữ nghĩa là thánh hiền, viết thiếu một nét cũng như thiếu một cái tay, tui thật là tội lỗi, thiện tai, thiện tai”...
Không bệnh tật chi, thầy vẫn ra ngồi viết chữ hồi Tết, thì ra Giêng thầy Huynh Thành yếu dần và lặng lẽ thuận thế vô thường thâu thần viên tịch sau một đêm yên giấc. Từ đó, chùa không có ai kịp theo học chữ Nho để thay thầy viết liễn đối, biển thờ... Từ đó, nhiều nhà trong làng cũng không thay biển thờ có nét chữ Tết cuối cùng của thầy nữa. Bà tôi nói, thay tờ khác bà thấy không quen. Và mấy tấm biển thờ Mẹ Sanh, Ông Táo của nhà tôi bao năm vẫn vẹn nguyên một nét mực của thầy. Vậy mà mỗi năm dọn dẹp nhà, nghĩ coi còn thứ gì mình cần thay mới hay không, ngó lên trang thờ thấy tấm biển bạc màu, lòng tôi lại xôn xao nhớ thương da diết.
Mấy hôm trước, bà nội bảo, gián cắn rách hết mấy nét chữ Táo Quân của thầy rồi. Tôi đành phải chụp lại, dùng phần mềm chỉnh màu sắc và nét chữ, in ra cho bà thay mới. Bà mắt mờ, nhìn mỉm cười rồi bảo, con cứ dán chồng lên chứ đừng tháo tờ cũ ra bỏ nghen hông... Dán xong biển thờ mới, cũng là ngày đưa ông Táo về trời, ngó thấy khói nhang vi vu bay, như Táo Quân khoác lên mình chiếc áo mới, thong dong cưỡi cá chép bơi cao về trời... lòng tôi chợt nhớ cái khoảnh khắc những năm xưa, ngồi bên thầy Huynh Thành, ngó thầy viết chữ... Tôi bảo với bà, Tết năm này con học chữ Nho bà nha. Bà nội cười tươi rói dặn, “chữ cũng là người, học chữ là học làm người!”. Điều bà nói làm tôi thấy thật hay và thích thú, trong đời cũng nên có một việc gì đó, mà mỗi khi làm là mỗi lần dặn lòng về sự tử tế và lương thiện, cũng nên!
LÊ QUANG TRẠNG


