Mỗi năm, cứ chừng hai mươi mấy tháng Chạp, khi gió chướng bắt đầu trở mình thổi qua hàng dừa sau hè, trong nhà tôi lại rộn lên một nỗi bận bịu rất riêng. Không ai bảo ai, mấy cái thúng, cái nia được lôi ra phơi nắng. Lá chuối được cắt từ vườn, lau sạch, xếp ngay ngắn dưới gốc cau. Đó là lúc tôi biết: Tết sắp về và nồi bánh tét sắp được nhóm lửa.
![]() |
| Bánh tét- hương vị ngày Tết. |
Ở quê tôi, gói bánh tét không phải là chuyện một người, mà là việc của cả nhà, có khi là của cả xóm. Sáng sớm, má ngồi vo nếp bên bờ ao, đôi tay quen thuộc xoa nhẹ từng hạt trắng trong, miệng lẩm nhẩm tính xem năm nay gói bao nhiêu đòn thì đủ cúng ông bà, đủ biếu bên nội, bên ngoại.
Cô Tư lựa đậu xanh, đãi vỏ, nấu vừa chín tới, rồi tán nhuyễn, trộn chút muối cho đậm đà. Chị hai thì lo thịt mỡ, cắt miếng vuông vức, ướp tiêu, hành, nước mắm, chờ thấm. Mỗi người một việc, ai cũng bận mà ai cũng vui.
Tôi nhớ nhất là mùi lá chuối hơ trên bếp lửa. Lá vừa hơ xong, xanh thẫm lại, mềm ra, thoang thoảng mùi nắng gió, mùi ruộng vườn rất đỗi thân quen. Chị hai trải lá, cho nếp, đậu, thịt, rồi cuốn lại thật khéo. Đòn bánh tròn trịa, chắc tay, được buộc bằng lạt tre chẻ mỏng. Tiếng lạt kéo “rẹt” nghe gọn ghẽ, như buộc chặt thêm một mùa Tết.
Chiều xuống, nồi bánh được bắc lên bếp củi ngoài hiên. Lửa hồng bập bùng, khói bay bảng lảng, quyện mùi nếp mới, mùi lá chuối, mùi củi khô, thành một thứ hương Tết rất riêng mà đi đâu cũng không tìm thấy.
Đêm canh bánh là đêm dài nhất trong năm, nhưng cũng là đêm ấm áp nhất. Người lớn ngồi quanh bếp kể chuyện làm ăn, chuyện mùa nước nổi, chuyện cái Tết nghèo năm cũ chỉ có vài đòn bánh chia nhau. Trẻ con chúng tôi thì chốc chốc chạy lại, thò tay hơ lửa, mắt hau háu chờ bánh chín.
Có những lúc khuya khoắt, gió lạnh tạt qua hiên, má kéo thêm củi, ba chêm nước vô nồi, còn chị hai thì lặng lẽ chắp tay khấn ông bà phù hộ cho con cháu năm mới bình an. Trong tiếng củi nổ lách tách, tôi bỗng thấy Tết không nằm ở mâm cao cỗ đầy, mà nằm ở khoảnh khắc cả nhà quây quần bên nhau như vầy.
Sáng hôm sau, bánh được vớt ra, xếp ngay ngắn trên tấm ván, ép cho ráo nước. Đòn bánh nguội dần, lớp lá chuối thẫm màu, bóng lên. Khi cắt bánh, khoanh bánh hiện ra trắng trong của nếp, vàng ươm của đậu, điểm miếng thịt hồng béo.
Miếng bánh tét ăn với dưa kiệu, củ cải muối, chan chút nước mắm ớt, nghe sao mà tròn vị đến lạ. Ăn một miếng, như ăn luôn cả hương đồng gió nội, cả mồ hôi và thương yêu của người gói bánh.
Bây giờ, bánh tét bán đầy ngoài chợ, muốn mua lúc nào cũng có. Nhưng Tết mà thiếu nồi bánh tét tự tay gói, tôi vẫn thấy lòng trống trải. Bởi bánh tét không chỉ để ăn. Bánh tét là ký ức, là sợi dây nối người đi xa với mái nhà cũ, nối hiện tại với những mùa xuân đã qua.
Mỗi độ xuân về, nhìn nồi bánh tét sôi lặng lẽ bên hiên, tôi lại thấy Tết đang thở, đang ấm lên từ bếp lửa quê nhà. Và tôi hiểu, chừng nào còn giữ được nồi bánh ấy, là chừng đó Tết vẫn còn nguyên vẹn trong lòng người!
Bài, ảnh: NGỌC THƯ


