Đề xuất nhiều cơ chế đặc thù thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa

10:45, 24/10/2026

Nhằm tạo động lực mới cho các ngành công nghiệp văn hóa, dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất nhiều chính sách hỗ trợ hoạt động sáng tạo, phát triển nhân lực, hạ tầng, thị trường và thu hút đầu tư. 

Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa gồm 8 chương, 39 điều, đề xuất 6 nhóm chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, hỗ trợ sáng tạo và khai thác quyền sở hữu trí tuệ, phát triển nhân lực, hạ tầng, thị trường và cơ chế tài chính, ưu đãi đầu tư.

Theo chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 24/10, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật.

Sáu nhóm chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa

Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa gồm 8 chương, 39 điều, tập trung giải quyết những vấn đề then chốt nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa thông qua sáu nhóm nội dung chính.

Thứ nhất, phát triển hệ sinh thái và thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa.

Dự thảo quy định các chủ thể tham gia hệ sinh thái, hoạt động phát triển hệ sinh thái và trách nhiệm của Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong ban hành cơ chế, chính sách kết nối, liên kết.

Đồng thời, đề xuất cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình, hoạt động mới trong công nghiệp văn hóa, bao gồm lĩnh vực ưu tiên thử nghiệm, thẩm quyền chấp thuận, trách nhiệm của chủ thể tham gia và các trường hợp chấm dứt thử nghiệm.

Thứ hai, hỗ trợ sáng tạo, xác lập và xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ.

Dự thảo đề xuất chính sách phát triển phần mềm phục vụ sáng tạo, nền tảng số hỗ trợ quyền sở hữu trí tuệ, dịch vụ gia tăng giá trị; tạo điều kiện tiếp cận kho học liệu, kho tài nguyên dùng chung, bồi dưỡng và tập huấn kỹ năng.

Đáng chú ý, dự thảo quy định việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong các giao dịch tài chính; đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu thông tin thị trường phục vụ hoạt động định giá.

Thứ ba, phát triển nhân lực công nghiệp văn hóa.

Dự thảo đề xuất xây dựng khung năng lực nhân lực theo vị trí việc làm và cấp độ năng lực, làm cơ sở tham chiếu cho đào tạo, bảo đảm chất lượng giáo dục.

Bên cạnh đó là các chính sách thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia, nhà giáo tham gia đào tạo; cơ chế thù lao thỉnh giảng theo thỏa thuận; hỗ trợ chi phí sinh hoạt, tín dụng cho người học thuộc ngành, nghề ưu tiên; đầu tư cơ sở vật chất và thu hút nhân tài trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.

Thứ tư, phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa.

Dự thảo quy định về công trình, thiết chế phục vụ công nghiệp văn hóa; tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; cơ chế tổ chức hoạt động, sự kiện và đánh giá hiệu quả sử dụng hạ tầng.

Đồng thời, đề xuất cơ chế sử dụng không gian công cộng phục vụ hoạt động công nghiệp văn hóa; phát triển hạ tầng văn hóa số, xác định vai trò của Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia và các nguyên tắc xây dựng, vận hành hệ thống.

Thứ năm, phát triển thị trường công nghiệp văn hóa.

Dự thảo đề xuất cơ chế xác định sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc văn hóa Việt Nam và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm, làm cơ sở áp dụng các chính sách hỗ trợ, ưu đãi.

Các chính sách khác gồm hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nâng cao năng lực phát triển sản phẩm; xây dựng thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa; phát triển sàn giao dịch công nghiệp văn hóa và thúc đẩy tiêu dùng.

Đáng chú ý, dự thảo đề xuất chính sách hỗ trợ tiêu dùng cho một số nhóm đối tượng thông qua thẻ văn hóa quốc gia được quản lý, sử dụng trên hệ thống thống nhất toàn quốc.

Thứ sáu, tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư.

Dự thảo đề xuất đa dạng hóa nguồn tài chính cho công nghiệp văn hóa, cho phép quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa và quy định cơ chế huy động, sử dụng các nguồn lực.

Đối với đầu tư mạo hiểm, dự thảo quy định việc sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp văn hóa phù hợp mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của quỹ.

Ngoài ra, dự thảo đề xuất ưu đãi đầu tư đối với hạ tầng, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, sản phẩm có bản sắc Việt Nam, sản phẩm trọng điểm và dự án đầu tư nước ngoài thuộc diện ưu tiên thu hút.

Một chính sách đáng chú ý là hỗ trợ một phần chi phí sản xuất đối với dự án công nghiệp văn hóa có giá trị kinh tế cao, đáp ứng các điều kiện theo quy định.

Dự thảo cũng đề xuất hoàn 100% thuế giá trị gia tăng đã nộp tại Việt Nam đối với hàng hóa, dịch vụ được sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất phim của tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng điều kiện quy định.

Về thủ tục hành chính, dự thảo được xây dựng theo hướng chỉ quy định những nội dung cơ bản về điều kiện, thẩm quyền và nguyên tắc thực hiện; trình tự, thủ tục, hồ sơ và nội dung kỹ thuật giao cơ quan có thẩm quyền quy định.

Đề nghị làm rõ cơ chế đặc thù, bảo đảm tính khả thi của các chính sách

Thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm tạo hành lang pháp lý, khắc phục những hạn chế, vướng mắc và thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển.

Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo theo hướng bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, làm rõ tính đặc thù và khả năng thực hiện các chính sách.

Thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm tạo hành lang pháp lý, khắc phục những hạn chế, vướng mắc và thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển.
Thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm tạo hành lang pháp lý, khắc phục những hạn chế, vướng mắc và thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển.

Về phát triển hệ sinh thái và thử nghiệm có kiểm soát, Ủy ban đề nghị rà soát các quy định về chủ thể tham gia, nội dung phát triển hệ sinh thái và cơ chế thử nghiệm.

Đối với thử nghiệm có kiểm soát, cần xác định rõ lĩnh vực được ưu tiên, thẩm quyền chấp thuận, trách nhiệm của các bên, cơ chế giám sát và xử lý rủi ro, bảo đảm thống nhất với các quy định pháp luật liên quan.

Về hỗ trợ sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ sự cần thiết của các quy định về sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm; xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia định giá.

Đồng thời, cần rà soát để tránh chồng chéo với pháp luật về sở hữu trí tuệ, giá và các quy định liên quan đến giao dịch bảo đảm.

Về phát triển nhân lực, Ủy ban đề nghị rà soát các chính sách thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia tham gia đào tạo, bảo đảm phù hợp với pháp luật về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và các quy định hiện hành.

Đối với chính sách hỗ trợ người học, cần xác định rõ đối tượng, điều kiện thụ hưởng, tránh trùng lặp với những chính sách hỗ trợ đã có.

Về hạ tầng công nghiệp văn hóa, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ cơ chế hình thành, quản lý, vận hành tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; bảo đảm phù hợp với pháp luật về đất đai, đầu tư và xây dựng.

Đối với sử dụng không gian công cộng, cần làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý, điều kiện tổ chức hoạt động, bảo đảm hài hòa giữa phát triển công nghiệp văn hóa và quyền sử dụng không gian công cộng.

Về thị trường công nghiệp văn hóa, Ủy ban đề nghị làm rõ tiêu chí xác định sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc văn hóa Việt Nam, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm và các chính sách hỗ trợ tương ứng.

Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị rà soát quy định về sàn giao dịch công nghiệp văn hóa, thương hiệu quốc gia và chính sách hỗ trợ tiêu dùng, trong đó có thẻ văn hóa quốc gia, nhằm bảo đảm tính khả thi và tránh chồng chéo.

Về tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục làm rõ các chính sách sử dụng nguồn lực nhà nước, cơ chế đầu tư mạo hiểm, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ chi phí sản xuất.

Đối với đề xuất hoàn thuế giá trị gia tăng cho đoàn làm phim nước ngoài, cần làm rõ điều kiện, phạm vi áp dụng và đánh giá đầy đủ tác động đến ngân sách nhà nước.

Ủy ban cũng đề nghị rà soát các quy định sửa đổi, bổ sung pháp luật về thuế, đầu tư và những luật có liên quan, bảo đảm thống nhất, đồng bộ khi triển khai.

Đáng chú ý, cơ quan thẩm tra yêu cầu tiếp tục đánh giá kỹ nguồn lực tài chính, nhân lực và các điều kiện bảo đảm thi hành, nhất là những chính sách hỗ trợ, ưu đãi có khả năng làm phát sinh nhu cầu chi ngân sách.

Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu, giải trình đầy đủ các ý kiến thẩm tra, hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng rõ ràng, khả thi, tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển bền vững.

Theo nhandan.vn

 

 

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh