Ba nghị quyết về xây dựng Đảng: Đổi mới phương thức lãnh đạo, tạo chuyển biến thực chất trong công tác cán bộ

12:14, 16/10/2026

Theo Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc, đây không phải là 3 nghị quyết riêng lẻ, mà là 3 bộ phận gắn bó hữu cơ trong một chỉnh thể thống nhất, cùng giải quyết những vấn đề có ý nghĩa nền tảng và quyết định đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương truyền đạt những nội dung cốt lõi của 3 nghị quyết - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương truyền đạt những nội dung cốt lõi của 3 nghị quyết - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Sáng 16/10, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương truyền đạt những nội dung cốt lõi của 3 Nghị quyết: Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, đây không phải là 3 Nghị quyết riêng lẻ, mà là 3 bộ phận gắn bó hữu cơ trong một chỉnh thể thống nhất, cùng giải quyết những vấn đề có ý nghĩa nền tảng và quyết định đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Trong đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tạo nền tảng vững chắc; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền tạo bước chuyển về chất trong năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt, quyết định kết quả tổ chức thực hiện. 3 nghị quyết có trọng tâm riêng nhưng bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, không thể tách rời.

Việc đồng thời ban hành 3 nghị quyết thể hiện bước phát triển mới trong tư duy và tầm nhìn chiến lược về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, hướng mạnh vào nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản trị quốc gia; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, chuyển những chủ trương, quyết sách đúng đắn thành kết quả phát triển thực chất, nâng cao đời sống Nhân dân.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ

Tại Hội nghị, đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhấn mạnh 6 nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 31-NQ/TW.

Thứ nhất, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện của Đảng, coi đây là yêu cầu thường xuyên, xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của Đảng. Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, đây là tư tưởng rất quan trọng của Nghị quyết. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ được đặt ra khi có hạn chế, khuyết điểm hoặc khi xuất hiện những vấn đề phức tạp, mà phải trở thành công việc tự giác, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa "xây" và "chống", quản lý Đảng chặt chẽ, nghiêm minh. Theo đó, Nghị quyết tiếp tục khẳng định "xây" là cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" phải kiên quyết, kiên trì, nghiêm minh, đồng thời, bảo đảm tính giáo dục và nhân văn. Đảng muốn lãnh đạo tốt thì trước hết phải quản lý tốt chính mình. Quản lý chặt chẽ để phòng ngừa sai phạm, giữ vững kỷ luật, kỷ cương; quản lý nghiêm minh để bảo đảm mọi tổ chức đảng, mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Thứ ba, xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh; đề cao văn hóa của Đảng, trách nhiệm nêu gương và sự thống nhất giữa lời nói với việc làm. Đây là yêu cầu có ý nghĩa nền tảng đối với việc củng cố bản chất, uy tín và sức chiến đấu của Đảng.

Thứ tư, xây dựng Đảng phải thực sự dựa vào Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Nghị quyết tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc", coi đây là nguyên tắc xuyên suốt trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Thứ năm, gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả phát triển đất nước; lấy kết quả thực tiễn làm thước đo quan trọng. Đây là một trong những điểm thể hiện rõ yêu cầu mới của Nghị quyết. Chất lượng công tác xây dựng Đảng phải được kiểm chứng không chỉ qua việc thực hiện các nguyên tắc, quy định, chế độ sinh hoạt hay kết quả đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên, mà quan trọng hơn là qua năng lực lãnh đạo, cầm quyền, chất lượng quản trị quốc gia, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và kết quả phát triển đất nước.

Thứ sáu, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong Đảng, coi đây là phương thức quan trọng để đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn và quản lý Đảng trong giai đoạn mới. Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, chuyển đổi số trong Đảng không chỉ là số hóa văn bản, hồ sơ đảng viên hay đưa các quy trình công tác lên môi trường điện tử, mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức tổ chức, quản lý, điều hành và lãnh đạo trên cơ sở dữ liệu, công nghệ số và những phương pháp quản trị hiện đại…

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết có thể khái quát Nghị quyết thứ nhất là: "Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, mà còn phải làm cho Đảng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực và uy tín để lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên mới. Trên nền tảng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng".

Các đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu Hà Nội - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Các đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu Hà Nội - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới

Truyền đạt nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 15/10/2026 về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết Nghị quyết lần này kế thừa, phát triển những quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 28-NQ/TW khóa XIII, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống chính trị và nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết có 5 nội dung cốt lõi.

Thứ nhất, tiếp tục làm rõ và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm Đảng lãnh đạo toàn diện nhưng không bao biện, làm thay; phát huy đầy đủ vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong hệ thống chính trị. Đây là yêu cầu cốt lõi, xuyên suốt quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đảng lãnh đạo toàn diện đối với Nhà nước và xã hội, nhưng phải bằng phương thức phù hợp, khoa học, dân chủ, đúng nguyên tắc, bảo đảm phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, đổi mới phân công, phân cấp, phân quyền theo hướng rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, gắn với kiểm soát quyền lực và phát huy tính chủ động, sáng tạo. Nghị quyết đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân công, phân cấp, phân quyền phù hợp với mô hình tổ chức mới của hệ thống chính trị, nhất là chính quyền địa phương hai cấp. Tinh thần cơ bản là việc gì cấp nào làm tốt hơn thì giao cho cấp đó; đã giao nhiệm vụ phải giao thẩm quyền, nguồn lực và điều kiện thực hiện tương ứng; đã giao quyền phải xác định rõ trách nhiệm, cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.

Thứ ba, đổi mới căn bản việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết, bảo đảm mỗi chủ trương, quyết sách được chuẩn bị kỹ lưỡng, có tính khả thi và được thực hiện đến cùng. Đây là một trong những yêu cầu đổi mới rất quan trọng của Nghị quyết. Nghị quyết yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu, tham mưu, hoạch định chủ trương, quyết sách; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo, đánh giá tác động, nhận diện rủi ro và tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, các đối tượng chịu tác động. Đối với những vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ, cần có cơ chế thí điểm phù hợp, được kiểm soát chặt chẽ, có tiêu chí đánh giá và điều kiện để điều chỉnh hoặc nhân rộng.

Một yêu cầu đáng chú ý là việc xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện phải được tiến hành đồng thời với quá trình chuẩn bị và ban hành nghị quyết, bảo đảm rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chịu trách nhiệm, nguồn lực, thời hạn và kết quả cần đạt. Nghị quyết lần này đòi hỏi phải khắc phục những hạn chế đó. Văn bản của Đảng phải ngắn gọn, rõ ràng, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra, đánh giá. Trong quá trình thực hiện phải thường xuyên theo dõi, kịp thời phát hiện vấn đề phát sinh để điều chỉnh phù hợp.

Thứ tư, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát theo hướng chủ động phòng ngừa, cảnh báo sớm, đồng hành với tổ chức thực hiện và nâng cao hiệu quả lãnh đạo. Nghị quyết tiếp tục khẳng định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới cả về tư duy, nội dung và cách thức thực hiện. Kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện và xử lý vi phạm, mà còn phải giúp phát hiện những bất cập trong chủ trương, cơ chế, chính sách; nhận diện khó khăn, vướng mắc, cảnh báo nguy cơ và kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn trong quá trình tổ chức thực hiện.

Thứ năm, hiện đại hóa phương thức lãnh đạo, cầm quyền trên cơ sở nâng cao năng lực tham mưu chiến lược, dự báo, ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Trong điều kiện tình hình thế giới và trong nước biến đổi nhanh chóng, nhiều vấn đề mới, phức tạp, chưa có tiền lệ, phương thức lãnh đạo của Đảng phải ngày càng khoa học, chủ động, có khả năng dự báo và thích ứng cao. Nghị quyết yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham mưu chiến lược, năng lực phát hiện vấn đề, dự báo, cảnh báo sớm và đề xuất chính sách; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ phân tích, tham mưu, ra quyết định, theo dõi và đánh giá kết quả.

Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết thứ hai là: Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền không làm thay đổi bản chất, mục tiêu và những nguyên tắc nền tảng của Đảng, mà nhằm làm cho sự lãnh đạo của Đảng ngày càng khoa học, dân chủ, hiện đại, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và hiệu quả hơn. Muốn thực hiện được yêu cầu đó, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm.

Đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Truyền đạt nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 15/10/2026 về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh, thực tiễn cho thấy, cùng một chủ trương, cùng một cơ chế, chính sách, nhưng có nơi thực hiện rất tốt, có nơi lại trì trệ, kéo dài. Sự khác biệt nhiều khi không nằm ở chủ trương, mà ở năng lực, trách nhiệm và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu.

Vì vậy, Đảng ta xác định công tác cán bộ là then chốt của then chốt; phải tạo ra sự thay đổi thực chất về chất lượng đội ngũ, để người có đức, có tài được phát hiện, trọng dụng, phát huy; người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung được khuyến khích, bảo vệ; người không đáp ứng yêu cầu phải được bố trí lại hoặc thay thế kịp thời.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc tập trung làm rõ 5 nhóm nội dung chủ yếu của Nghị quyết. Thứ nhất, đổi mới tư duy về công tác cán bộ, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ để lựa chọn, xây dựng và phát triển đội ngũ; không bố trí công việc theo con người hiện có. Đây là sự thay đổi rất quan trọng trong cách tiếp cận công tác cán bộ. Trước hết phải xác định rõ yêu cầu nhiệm vụ, chức năng, vị trí việc làm và những năng lực cần thiết; từ đó mới lựa chọn, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ phù hợp. Không thể vì đang có cán bộ như thế nào mà thiết kế công việc theo con người như thế ấy, hoặc chỉ căn cứ vào bằng cấp, thâm niên, quá trình công tác để bố trí cán bộ. Nghị quyết đặt ra yêu cầu quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ một cách thống nhất, liên tục, từ tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến đánh giá, bố trí, sử dụng, sàng lọc và thực hiện chính sách. Mỗi khâu phải gắn với yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, bảo đảm tính kế thừa, ổn định và phát triển.

Thứ hai, đổi mới thực chất việc đánh giá cán bộ, lấy phẩm chất, năng lực, uy tín và đặc biệt là kết quả, sản phẩm công việc làm thước đo chủ yếu. Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, qua nhiều nhiệm kỳ, công tác đánh giá cán bộ được xác định là "khâu yếu" thì hiện nay được xác định là điểm đột phá quan trọng nhất. Nghị quyết yêu cầu khắc phục tình trạng đánh giá hình thức, bình quân, nể nang, né tránh; không chỉ đánh giá qua hồ sơ, báo cáo, nhận xét chung chung mà phải dựa vào kết quả thực hiện nhiệm vụ, những sản phẩm cụ thể, có thể kiểm chứng. Tuy nhiên, đánh giá bằng kết quả không có nghĩa là chỉ nhìn vào những con số mà phải xem xét kết quả trong mối quan hệ với tính chất, độ khó của nhiệm vụ, điều kiện thực hiện, nguồn lực được giao và đóng góp thực chất của từng cá nhân.

Thứ ba, đổi mới cơ chế phát hiện, tạo nguồn, lựa chọn và sử dụng cán bộ theo hướng rộng mở, thực chất hơn; đặc biệt coi trọng phát hiện, trọng dụng nhân tài. Theo đó, Nghị quyết yêu cầu khắc phục tình trạng tạo nguồn khép kín, cục bộ; chủ động chuẩn bị đội ngũ kế cận từ sớm, từ xa, nhiều lớp, nhiều phương án; mở rộng nguồn cán bộ có chất lượng từ thực tiễn công tác, từ các lĩnh vực, khu vực và môi trường hoạt động khác nhau theo quy định. Phải mạnh dạn phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học, kỹ thuật và những người có năng lực nổi trội. Đồng thời, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ chuyên môn sâu, tạo điều kiện để những người giỏi chuyên môn được cống hiến, phát triển tương xứng, không nhất thiết phải trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý mới được ghi nhận, đãi ngộ.

Thứ tư, tạo động lực để cán bộ cống hiến, khuyến khích và bảo vệ người dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung; đồng thời kiên quyết sàng lọc, thay thế người không đáp ứng yêu cầu. Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh, Nghị quyết đặt ra yêu cầu phải xây dựng môi trường làm việc trong đó người có đức, có tài có cơ hội phát huy; người làm tốt được ghi nhận, trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng; người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung được khuyến khích và bảo vệ theo quy định. Đồng thời, phải khắc phục tình trạng cán bộ yếu kém, trì trệ, né tránh trách nhiệm nhưng vẫn được bố trí, sử dụng kéo dài; thực hiện nghiêm việc rà soát, sàng lọc, bố trí lại, miễn nhiệm hoặc thay thế những người không đáp ứng yêu cầu.

Thứ năm, kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ, đề cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu; đồng thời hoàn thiện thể chế và ứng dụng dữ liệu, công nghệ để nâng cao tính khách quan, minh bạch. Đổi mới công tác cán bộ phải đi đôi với giữ vững nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm công tâm, khách quan, công khai, minh bạch theo quy định. Phải phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong đánh giá, đề xuất, thẩm định, giới thiệu, quyết định và kiểm tra công tác cán bộ. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về việc nhận xét, đánh giá, tiến cử, giới thiệu và sử dụng cán bộ trong phạm vi thẩm quyền; không lợi dụng nguyên tắc tập thể để né tránh trách nhiệm cá nhân, cũng không lấy trách nhiệm cá nhân để làm thay thẩm quyền của tập thể. Một yêu cầu quan trọng là đánh giá trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu không chỉ ở kết quả thực hiện nhiệm vụ trong nhiệm kỳ, mà còn ở chất lượng đội ngũ cán bộ và nguồn kế cận mà mình xây dựng được.

Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, có thể khái quát tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết thứ ba là: Đổi mới công tác cán bộ phải bắt đầu từ yêu cầu nhiệm vụ, lấy phẩm chất, năng lực và kết quả công việc làm thước đo; lựa chọn đúng người, bố trí đúng việc, phát huy được người có tài, có đức; khuyến khích, bảo vệ người dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung và kịp thời thay thế người không đáp ứng yêu cầu. 

Như vậy, 3 nghị quyết có trọng tâm riêng nhưng cùng hướng tới một mục tiêu thống nhất: Đảng trong sạch, vững mạnh hơn; phương thức lãnh đạo, cầm quyền khoa học, hiệu quả hơn; đội ngũ cán bộ có chất lượng, trách nhiệm và năng lực thực thi cao hơn.

Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ 

 

 

Đường dây nóng: 0362811298.

Phóng sự ảnh