Những năm gần đây, vùng ĐBSCL liên tục đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt mùa khô, cùng với ngập úng, sạt lở bờ sông, sụt lún đất, tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế- xã hội.
Tại hội thảo “An ninh nguồn nước ĐBSCL trước biến đổi khí hậu”, các nhà quản lý, chuyên gia và địa phương đã tập trung phân tích thực trạng, cảnh báo những rủi ro trong thời gian tới, đề xuất nhiều giải pháp đồng bộ nhằm sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước cho toàn vùng.
![]() |
| Linh hoạt vận hành cống Tân Dinh để ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân. Ảnh: TRUNG CHÁNH |
Yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn
ĐBSCL đang phải đối diện với những biến động chưa từng có. Nguồn nước mặt ngày càng phụ thuộc và biến động mạnh theo dòng chảy thượng nguồn; nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm trữ lượng và sụt lún đất. Vấn đề xâm nhập mặn không còn theo quy luật cũ mà ngày càng tiến sâu, kéo dài và khó dự báo.
Không chỉ vậy, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cùng với sự suy giảm phù sa đang làm thay đổi cấu trúc tự nhiên của cả vùng. ĐBSCL không chỉ thiếu nước, mà còn đang mất đi những điều kiện nền tảng để tự phục hồi. Tất cả những yếu tố đó đang tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu người dân, đến sản xuất nông nghiệp, đến môi trường và cả cấu trúc kinh tế- xã hội của vùng.
Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến- Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong cho biết: Một nghịch lý đang hiện hữu ngay tại vùng đất trù phú bậc nhất cả nước- ĐBSCL, là giữa mạng lưới sông ngòi dày đặc vùng sông nước, người dân lại đang thiếu nước ngọt để sinh hoạt và sản xuất. Những can nước phải chắt chiu trong mùa khô, những cánh đồng mới đầu mùa khô đã nứt nẻ, những vườn cây héo úa không còn là hình ảnh cá biệt mà đang trở thành thực tế lặp đi lặp lại trong nhiều năm qua tại vùng đất này. Đó không chỉ là câu chuyện của thiên nhiên. Đó là lời cảnh báo về an ninh nguồn nước, một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững của ĐBSCL hôm nay và trong tương lai.
PGS.TS Lê Anh Tuấn- Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường, ĐH Cần Thơ, Cố vấn Khoa học của Viện Mekong, cho rằng: An ninh nguồn nước tại ĐBSCL hiện đang đối mặt với ít nhất 7 thách thức lớn, gồm 3 yếu tố bên ngoài và 4 vấn đề nội tại. 3 thách thức từ bên ngoài bao gồm tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, sự phát triển các công trình thủy điện ở thượng nguồn làm suy giảm lượng phù sa, bùn cát và nguy cơ nguồn nước mùa khô bị chuyển hướng, điển hình là dự án kênh đào Funan Techo (Campuchia), có thể ảnh hưởng đáng kể đến dòng chảy về ĐBSCL. Trong khi đó, các vấn đề nội tại cũng đang gây áp lực lớn. Trước hết là tình trạng khai thác nước ngầm quá mức phục vụ sản xuất. Kế đến là ô nhiễm nguồn nước do lạm dụng phân bón, thuốc BVTV. Ngoài ra, hiệu quả sử dụng nước còn rất thấp. Việc thay đổi mục đích sử dụng đất cũng đang tác động tiêu cực đến nguồn nước trong vùng.
![]() |
![]() |
| Hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, sụt lún diễn ra ngày càng phức tạp, tác động đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng ĐBSCL. |
PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh- Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam cho biết: ĐBSCL vẫn là vùng nông nghiệp trọng điểm, nhưng đang chịu tác động ngày càng nghiêm trọng từ phát triển thượng nguồn, biến đổi khí hậu và sụt lún đất. Vì vậy, định hướng phát triển phải theo hướng thích nghi có kiểm soát, chủ động điều tiết nguồn nước để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo phát triển bền vững.
ĐBSCL chủ động giải bài toán an ninh nguồn nước
Tại Hội thảo “An ninh nguồn nước ĐBSCL trước thách thức biến đổi khí hậu”, vừa được tổ chức tại TP Cần Thơ, các đại biểu đã trình bày, thảo luận các vấn đề về: Thực trạng nguồn nước và hạn mặn ĐBSCL; chính sách bảo đảm an ninh nguồn nước tại ĐBSCL trong bối cảnh mới; giải pháp hỗ trợ người dân thích ứng với biến đổi khí hậu và hạn mặn ở ĐBSCL… Các ý kiến tại hội thảo thống nhất rằng, an ninh nguồn nước không còn là vấn đề riêng lẻ của từng địa phương mà cần cách tiếp cận tổng thể, liên vùng và thậm chí liên quốc gia, gắn với lưu vực sông Mekong.
Ông Văn Hữu Huệ- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cho biết, dù xâm nhập mặn không dự báo gay gắt, tỉnh vẫn chủ động ứng phó bằng việc vận hành hiệu quả công trình thủy lợi để trữ nước ngọt; nạo vét, nâng cấp kênh mương; tăng cường quan trắc, dự báo độ mặn và kịp thời khuyến cáo người dân. Đồng thời, tỉnh bảo đảm cấp nước sinh hoạt, khuyến khích trữ nước tại chỗ, sử dụng tiết kiệm và chuyển đổi cây trồng, mùa vụ phù hợp nguồn nước. Các đơn vị cấp nước được yêu cầu kiểm soát chặt chất lượng, duy trì cung ứng ổn định; địa phương đẩy mạnh tập huấn kỹ thuật sản xuất thích ứng và kiến nghị Trung ương hỗ trợ đầu tư công trình kiểm soát mặn, quản lý khai thác nước ngầm. Về lâu dài, tỉnh nhấn mạnh cần tăng cường trữ nước ngọt, hạn chế khai thác nước ngầm để tránh sụt lún, đồng thời nghiên cứu giải pháp bổ cập nước dưới đất thông qua hệ thống hồ chứa ngầm nhằm vừa chống sụt lún, vừa bảo đảm nguồn nước bền vững.
PGS.TS Lê Anh Tuấn cho hay: ĐBSCL cần sớm điều chỉnh chiến lược sử dụng nước theo hướng bền vững hơn. Một trong những vấn đề đặt ra là có nên tiếp tục duy trì sản xuất lúa 3 vụ và hệ thống đê bao khép kín tại các vùng như Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười. Việc kiểm soát lũ quá mức khiến khả năng trữ nước tự nhiên suy giảm, đồng thời làm gia tăng nguy cơ ngập úng tại đô thị. Liên quan đến giải pháp trữ nước, cần tránh xu hướng đào ao hồ quá sâu. Thực tế cho thấy các ao sâu trên 3m có thể làm phát sinh phèn và gây hiện tượng hút nước từ khu vực xung quanh, làm gia tăng thiếu nước cục bộ trong mùa khô.
Ông Hà Minh Luân- Phó Trưởng Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Lúa ĐBSCL cho rằng: Khả năng thích ứng của ngành nông nghiệp và người dân đã có những bước tiến rõ rệt. Nông dân chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, lựa chọn giống cây trồng phù hợp, nhiều mô hình nuôi thích ứng… Tuy nhiên, khả năng thích ứng hiện nay vẫn chưa đồng đều giữa các vùng và các nhóm đối tượng sản xuất. Thời gian tới cần có cách tiếp cận tổng thể và dài hạn hơn, tập trung vào quy hoạch lại sản xuất theo vùng sinh thái, phát triển giống và đối tượng nuôi thích nghi, nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước, đặc biệt là tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ…
Theo PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh- Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam: Trong những năm gần đây, tình trạng xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân. Đặc điểm nguồn nước của lưu vực sông Mekong cho thấy đây là một hệ thống có tính biến động theo năm khá lớn, với sự phân hóa rõ rệt giữa mùa lũ và mùa kiệt, mặc dù tổng lượng dòng chảy dài hạn không biến động nhiều.
Trong giai đoạn từ năm 2001-2025, dung tích trữ nước đã có sự thay đổi đáng kể, từ khoảng 15 tỷ mét khối lên 65-73 tỷ mét khối, và theo quy hoạch có thể đạt tới 110,4 tỷ mét khối. Tuy nhiên, song song với đó là sự gia tăng diện tích sản xuất nông nghiệp trong toàn lưu vực. Dự báo đến năm 2040, tổng diện tích này có thể tăng thêm 16%, đạt gần 6,7 triệu hecta. Riêng tại Campuchia và Lào, diện tích nông nghiệp cũng gia tăng đáng kể, gây áp lực lớn lên nguồn nước.
Ông Vũ Viết Hưng- Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho ĐBSCL được xây dựng theo hướng “thích ứng có kiểm soát”, với trọng tâm đầu tư hạ tầng thủy lợi chiến lược mang tính liên vùng, liên lưu vực nhằm xử lý các điểm nóng về nguồn nước. Cách tiếp cận mới chú trọng nâng cấp hệ thống hiện có theo hướng linh hoạt, đa mục tiêu; đồng thời khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ bằng việc kết nối liên hoàn từ công trình đầu mối đến nội đồng để chủ động dẫn, trữ và điều tiết nước.
Bên cạnh đó, các giải pháp phi công trình như nâng cao năng lực dự báo, ứng dụng công nghệ quan trắc, vận hành theo thời gian thực được đẩy mạnh, gắn với chuyển đổi tư duy sang kinh tế nông nghiệp, phù hợp từng tiểu vùng. Thực tế, nhiều công trình như Cái Lớn- Cái Bé, Nguyễn Tất Thành đã phát huy hiệu quả; thời gian tới tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi đồng bộ, phục vụ phát triển bền vững toàn vùng.
Bài, ảnh: TRÀ MY




