Bước tiến của thủy lợi đồng bằng trong ứng phó xâm nhập mặn

06:54, 26/02/2026

ĐBSCL thường niên chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn (XNM) vào mùa khô. Trong những năm gần đây, với tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và chế độ vận hành của các công trình thủy nông, thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong, thiên tai này có xu hướng diễn biến bất thường hơn. Công tác thủy lợi (TL) trong vùng có những bước tiến mạnh mẽ nhằm bảo vệ cho vùng đất rộng 3,96 triệu hecta.

Cống Láng Thé là một trong những cống cửa sông lớn nhất ở Vĩnh Long, ngăn mặn xâm nhập từ sông Cổ Chiên và cấp, trữ nước ngọt cho một phần lớn của vùng Nam Măng Thít.
Cống Láng Thé là một trong những cống cửa sông lớn nhất ở Vĩnh Long, ngăn mặn xâm nhập từ sông Cổ Chiên và cấp, trữ nước ngọt cho một phần lớn của vùng Nam Măng Thít.

Quy hoạch thủy lợi kiểm soát, ngăn mặn được thiết lập

ĐBSCL đang chịu ảnh hưởng của XNM từ 1,2-1,6 triệu hecta ở vùng ven biển và thiếu nước ngọt cho sản xuất, sinh hoạt khoảng 2,1 triệu hecta ở những vùng xa sông, gần biển thuộc khu vực giữa.

Trước đây, công tác TL trong vùng chủ yếu thực hiện nhiệm vụ cấp nước tưới, tiêu thoát nước chống úng, chống ngập lụt do lũ. Đến khi hạn, mặn xảy ra trên diện rộng vào mùa khô năm 2004-2005, công tác TL để ứng phó với XNM được Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong vùng rất quan tâm, đặc biệt là từ sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch (QH) TL ĐBSCL đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020.

Tiếp đến là QH TL ĐBSCL giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện BĐKH- nước biển dâng. QH này đề cập đến vấn đề kiểm soát lũ, bảo vệ dân cư vùng ven biển, chủ động cấp nước, tiêu thoát nước, kiểm soát mặn, ứng phó BĐKH- nước biển dâng được đặc biệt chú trọng... Giải pháp công trình nạo vét, cải tạo những trục kênh, sông lớn để tiếp nước liên tỉnh, từ vùng ngọt hóa cấp nước cho vùng bị nhiễm mặn và xây dựng các cống chặn các cửa sông nối với các sông lớn, như Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu… đã được đề xuất. Trên cơ sở QH này, mỗi tỉnh, thành trong vùng đều triển khai lập QH TL riêng của mỗi địa phương.

Từ đó trong lưu vực đã hình thành nhiều công trình TL nhỏ phân bố khắp đồng bằng, cùng các hệ thống công trình TL quy mô từ vừa đến lớn, tiêu biểu như: Gò Công, Bảo Định, Bắc Bến Tre, Nam Bến Tre, Nam Măng Thít, Ô Môn- Xà No, Quản Lộ- Phụng Hiệp, Long Phú- Tiếp Nhật, Ba Rinh- Tà Liêm, Bắc Vàm Nao… Các hệ thống TL đã góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, từng bước nâng cao đời sống, sinh kế của người dân trong vùng.

Mùa khô năm 2015-2016, hạn mặn kỷ lục xảy ra khắp đồng bằng. Các tỉnh, thành tiếp tục điều chỉnh QH TL của mỗi địa phương. Trong QH TL lần này, vấn đề ứng phó với XNM kết hợp phòng, chống hạn được các địa phương rất quan tâm, nhất là vùng ven biển. Công tác TL chuyển hướng mạnh mẽ sang ứng phó hạn, mặn, vấn đề trữ- cấp nước ngọt cho sản xuất, dân sinh trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Hàng loạt công trình TL lớn trong vùng được đầu tư bởi Trung ương nhằm khép kín TL, ngăn mặn trên vùng rộng lớn hàng trăm ngàn hecta; trong đó đáng kể nhất là đầu tư xây dựng các cống kiểm soát mặn, kiểm soát lũ ven Biển Tây (đặc biệt cống Cái Lớn- Cái Bé, cống- âu Ninh Quới), cống Vũng Liêm, cống Tân Dinh (vùng Nam Măng Thít)... Song song đó, các địa phương cũng đã mạnh mẽ đầu tư phát triển TL nội đồng nhằm đồng bộ và phát huy hiệu quả của các công trình TL lớn đã đầu tư.

Sau hạn mặn lịch sử năm 2020, công tác QH TL cho vùng ĐBSCL tiếp tục được Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương quan tâm bằng việc thông qua 2 QH: QH Phòng, chống thiên tai và TL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và QH TL lưu vực sông Cửu Long thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

QH TL lưu vực sông Cửu Long, bên cạnh các mục tiêu về đảm bảo tưới, cấp và tiêu thoát nước, phòng chống lũ ngập úng, QH lần này còn nêu rõ mục tiêu kiểm soát mặn đến năm 2030 cho toàn vùng là: chủ động kiểm soát mặn khoảng 1,35 triệu hecta đất sản xuất nông nghiệp; bảo đảm cấp nước chủ động cho sản xuất, dân sinh trong trường hợp hạn, mặn tương đương đợt hạn mặn năm 2015-2016, đến năm 2030 giải quyết dứt điểm nước sinh hoạt cho người dân nông thôn vùng ảnh hưởng hạn mặn.

Tầm nhìn đến năm 2050: bảo đảm chủ động nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh trong mọi tình huống bất lợi, giảm thiểu thiệt hại cho đời sống và sản xuất của người dân do hạn mặn gây ra ở mức thấp nhất.

Trong QH lần này, ngoài chia vùng ĐBSCL thành 3 vùng QH (vùng sinh thái ngọt rộng 1,9 triệu hecta, vùng sinh thái ngọt- lợ rộng 1,35 triệu hecta và vùng sinh thái mặn rộng 0,75 triệu hecta), QH TL còn đưa ra các điểm khống chế mặn (độ mặn 1‰ và 4‰) trên dòng chính nhằm kiểm soát, dự báo và điều tiết nguồn nước, giúp ngăn chặn XNM vào sâu nội đồng.

Việc này đảm bảo chủ động lấy nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong mùa hạn mặn. Trong đó, điểm khống chế mặn trên dòng chính với độ mặn 4‰ ngưỡng mặn tối đa phục vụ sản xuất lúa: trên sông Tiền tại cống Xuân Hòa, trên sông Hàm Luông tại Mỹ Hóa, trên sông Cổ Chiên tại cống Vũng Liêm, trên sông Hậu tại kênh Cái Côn và trên sông Vàm Cỏ Tây tại Tân An…

Ngành chuyên môn tăng cường đo mặn, mực nước triều cường để thông tin kịp thời cho người dân, cơ sở sản xuất biết để chủ động phòng, tránh.
Ngành chuyên môn tăng cường đo mặn, mực nước triều cường để thông tin kịp thời cho người dân, cơ sở sản xuất biết để chủ động phòng, tránh.

Đầu tư xây dựng các cống cửa sông và mở rộng vùng ô bao

Để ứng phó với BĐKH, triều cường, XNM, trên cơ sở các QH TL vùng ĐBSCL, QH TL của các địa phương đã được phê duyệt, đầu tư phát triển hệ thống TL trong vùng có xu hướng mở rộng vùng ô bao từ vài chục, vài trăm hecta lên đến hàng trăm ngàn hecta bằng việc đầu tư đê bao lớn ven các sông lớn và xây dựng các cống lớn tại các cửa sông kết hợp dùng những kênh, rạch, sông lớn sau cống làm hồ, làm nơi chứa- trữ nước.

Việc đầu tư ô bao lớn giúp chủ động ngăn triều, ngăn mặn trên vùng rộng lớn, từ đó giảm đáng kể việc đầu tư xây dựng tôn cao đỉnh các công trình TL nhỏ, ngay cả các đường giao thông bộ trong vùng đê bao.

Điển hình trong đầu tư mở rộng vùng ô bao lớn là vùng Nam Măng Thít thuộc địa phận tỉnh Trà Vinh- Vĩnh Long cũ (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long). Vùng này được Bộ Nông nghiệp-PTNT đầu tư Tiểu Dự án TL Nam Măng Thít (năm 2000-2007) với quy mô vùng dự án rộng 171.626ha đất nông nghiệp của 2 tỉnh Vĩnh Long-Trà Vinh (cũ). Từ đó, nhiều công trình, dự án TL vừa, nhỏ khác được 2 tỉnh đầu tư nhằm mục tiêu dẫn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, kết hợp phát triển hạ tầng phục vụ xây dựng NTM và ứng phó với BĐKH, triều cường, hạn, mặn.

Giải pháp xây cống cửa sông để kiểm soát, ngăn mặn được Bộ Nông nghiệp-PTNT triển khai từ năm 2000. Trong vùng Nam Măng Thít đã có nhiều cống cửa sông được xây dựng, như: cống Cần Chông, Láng Thé, Cái Hóp, Bông Bót, Nàng Âm, Vũng Liêm, Tân Dinh phục vụ gần 3.000ha.

Năm 2019, Bộ Nông nghiệp-PTNT triển khai dự án thủy lợi Cái Lớn- Cái Bé giai đoạn 1, trong đó nổi bật nhất là siêu công trình cống thủy lợi Cái Lớn- Cái Bé tại 2 cửa sông nối với Biển Tây- Cái Lớn, Cái Bé (Kiên Giang). 2 cống có diện tích kiểm soát nguồn nước 384.120ha, cống Cái Lớn có 11 cửa van và âu thuyền rộng 15m, mỗi cửa van rộng 40m và nặng 203 tấn; còn cống Cái Bé cũng có 2 cửa van rộng 35m và âu thuyền. Đến giữa tháng 12/2021, 2 cống này hoàn thành, đã đưa vào vận hành cho đến nay.

Ngày 29/9/2025, UBND tỉnh Vĩnh Long tổ chức lễ khánh thành công trình hạ tầng hồ chứa nước ngọt dọc bờ sông Láng Thé, gói thầu số 30 giai đoạn 1. Dự án được triển khai trên diện tích 30ha mặt nước phía trong cống Láng Thé, với dung tích trên 10 triệu mét khối đảm bảo an ninh nguồn nước phường Nguyệt Hóa và xã Bình Phú.

Đây là dự án TL kết hợp sử dụng cống cửa sông (cống Láng Thé) và kênh sau cống (sông Láng Thé) để làm hồ chứa nước ngọt phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất, công nghiệp và dịch vụ ở địa phương.

Theo các chuyên gia của Viện QH TL Miền Nam, để chế ngự nước biển dâng, mặn thâm nhập ở vùng ĐBSCL trong tương lai sẽ nghiên cứu xây dựng thêm các cống cửa sông giáp Biển Đông (cửa sông Cổ Chiên, sông Vàm Cỏ, Hàm Luông, Cung Hầu…) và các cống cửa sông giáp biển Tây (Gành Hào, Mỹ Thanh, sông Đốc…) như đã đề xuất trong QH Phòng, chống thiên tai và TL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và QH TL lưu vực sông Cửu Long thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Ngoài ra còn đầu tư một số công trình chuyển, trữ nước ngọt theo QH nhằm cụ thể hóa các giải pháp QH cấp trên, như: công trình chuyển nước cho vùng Nam QL1 Cà Mau (gồm cống- âu thuyền Vàm Lẽo, cống- âu thuyền Hộ Phòng, hệ thống cống ven đê Tây Gành Hào- Hộ Phòng, trạm bơm Cầu Sập); công trình chuyển nước cho vùng Bán đảo Cà Mau (gồm nạo vét các trục kênh cấp nước từ sông Hậu- các kênh KH, Thốt Nốt, Trâm Bầu...; xây dựng cống sông Đốc và một số cống bờ Nam sông Đốc); đầu tư công trình xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp các công trình trữ nước ngọt phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất, phòng, chống cháy rừng, kết hợp du lịch
sinh thái…

Bài, ảnh: THÀNH THẶNG
 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh